Giương cao Con Người lên

28-02-2022 2,834 lượt xem

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy.” (Ga 8:28)

Trong các Phúc Âm nhất lãm (Synoptic Gospels) cũng như trong Phúc Âm theo Thánh sử Gioan, 3 lần Chúa Giêsu nghiêm túc nói tiên tri về cuộc thương khó của Ngài (Ga 3:14; 8:28; 12:32) Nhưng cuộc thương khó trong Phúc Âm theo Thánh Gioan là duy nhất nhắc đến việc Chúa Giêsu nói về việc Ngài chịu đóng đinh bằng từ ngữ “nâng lên,” ám chỉ câu chuyện con rắn đồng bị treo trên cây cột (Ds 21:4-9; x. Ga 3:14) Các hình ảnh này mạc khải ý nghĩa Mầu nhiệm Vượt qua của Ngài. Tại sao Chúa Giêsu chọn hình ảnh lạ và gây bối rối? Ds 21:4-9 và Ga 8:21-30 mời gọi chúng ta suy niệm vấn đề này.

Họ bắt đầu từ Núi Hor qua Biển Đỏ để tới đất Êđom, dân chúng mất kiên nhẫn trên đường đi. Dân chúng nói chống lại Thiên Chúa và Môsê: “Tại sao ông dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập để chết trong hoang địa? Không có bánh và nước, chúng tôi chán loại bánh tồi tệ này rồi!.” Thiên Chúa sai rắn lửa tấn công dân chúng, nhiều người Israel bị cắn và chết. Rồi dân chúng đến với Môsê và nói: “Chúng tôi đã phạm tội, vì chúng tôi phản nghịch Thiên Chúa và ngài. Xin ngài cầu nguyện với Thiên Chúa loại trừ rắn khỏi chúng tôi.” Môsê cầu nguyện cho dân. Thiên Chúa nói với Môsê: “Hãy làm một con rắn đồng và treo lên cây cột. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng thì sẽ được cứu sống.” Môsê làm một con rắn đồng và treo lên cây cột. Nếu rắn cắn ai và người đó ngước nhìn rắn đồng thì được cứu sống.

Câu chuyện cho chúng ta thấy Môsê là người cầu bầu kiểu mẫu của dân Chúa. Ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn nhưng thường bị dân chúng cằn nhằn kêu ca. Ông vẫn cầu nguyện cho những người lăng mạ và nổi loạn chống lại mình. (Xh 15:24-25; 17:3-4; 32:11; Ds 11:2) Sự khiêm nhường của ông làm nổi bật trong những vụ rắc rối mà tính gây hấn của dân chúng chống lại ông – khi Môsê nguyền rủa sự hung ác của người Ai Cập, (Xh 5:15-23) khi Aaron và Miriam cằn nhằn ông, (Ds 12:1-15) khi dân chúng ngược ngạo cố gắng truất phế và ném đá ông, (Ds 14:1-23) và khi ông bị kết tội gây ra cái chết của Korah và những người theo ông. (Ds 16:41-50)

Sách Dân số ám chỉ chính xác vì ông là đích cho dân chúng trút cơn giận dữ dù ông là người cầu bầu hữu hiệu. Khi chịu đựng dân chúng phản nghịch Thiên Chúa, Môsê cho thấy ông không tham vọng và tư lợi mà chỉ hướng về Thiên Chúa. Mỗi lần ông “hăm dọa” triệt tiêu dân chúng, rõ ràng Chúa không muốn làm vậy, mà luôn kiên nhẫn chờ đợi người ta xin lỗi (như trong chuyện Abraham can thiệp ở St 18:22-33). Thiên Chúa nói với Môsê: “Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn” (Xh 32:10), ông nhận được lời chính xác: “Lạy ĐỨC CHÚA, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập?” (Xh 32:11) Chuyện con rắn đồng phác họa hình ảnh Môsê sẵn sàng cầu nguyện cho dân khi họ bị rắn cắn.

Câu chuyện phác họa sự nối kết sâu xa giữa tội lỗi và hậu quả. Con rắn lửa mầu nhiệm (nechashim sepharim) cắn những người Israel nổi loạn gợi nhớ sự thâm độc của con rắn (nachash) trong St 3:1-6. Dân chúng chịu thua cơn cám dỗ vĩnh viễn bắt đầu từ con rắn trong Vườn Địa Đàng – cơn cám dỗ về sự bất tín và bất tuân Thiên Chúa – và như vậy họ có kinh nghiệm về độc tố của con rắn: Sự chết.

Phương pháp chữa lành của Thiên Chúa có liên quan tội lỗi. Thiên Chúa không loại trừ con rắn lửa theo yêu cầu của dân chúng. Ngài hướng dẫn làm con rắn đồng rồi treo lên “cây cột” (theo tiếng Do Thái, nēs nghĩa là “cờ hiệu.” (x. Is 11:10, 12) Con rắn đồng là biểu tượng hữu hình cả về sự nổi loạn của dân chúng và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Như vậy hình ảnh con rắn đồng khả dĩ gợi niềm tin của hối nhân nơi Thiên Chúa, và đức tin chính là điều cần thiết để được chữa lành.

Chúa Giêsu là Môsê mới, vượt qua các thủ lãnh cũ và che chở Dân Chúa. Thật vậy, Môsê sẽ là người tố cáo. (x. Ga 5:45) Môsê không có quyền tha thứ và yêu thương vô điều kiện khi dân chúng vi phạm luật. (x. Ga 1:17; 7:19) Trên thập giá, Chúa Giêsu đã hoàn tất vai trò người trung gian hòa giải cho dân chúng, chấp nhận chính hình phạt của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với Môsê: “Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xoá tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết.” (Xh 32:32) Môsê chỉ diễn tả ý muốn chia sẻ số phận với dân chúng, còn Chúa Giêsu thực sự chịu chết thay cho dân chúng – tức là chúng ta. (x. Ga 11:51-52)

Con rắn đồng hoàn tất nơi Chúa Giêsu khi Ngài bị “treo lên” trên thập giá. Đó là người Con tuân phục Chúa Cha. Mối liên quan với con rắn đồng rất gần với thuật ngữ “nâng lên” (nasa) trong tiếng Do Thái, thường được kết hợp với một cờ hiệu (nēs), trong cách nói tiên tri. Isaia liên kết việc Chúa “giương cao cờ hiệu” với việc quy tụ dân tản mác khắp nơi: “Người sẽ phất cờ hiệu cho các dân tộc, và từ bốn phương thiên hạ, sẽ quy tụ những người Ítraen biệt xứ, sẽ tập họp những người Giuđa bị phân tán.” (Is 11:12) Lời tiên tri này được hoàn tất trong cuộc đóng đi của Chúa Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa sẽ quy tụ dân chúng: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32; Ga 11:51) Dù bề ngoài là hình ảnh của đau khổ và hình phạt (như con rắn đồng), thập giá là “dấu hiệu” tối cao mạc khải Lòng Thương Xót của Chúa Cha. Đó là dấu hiệu của sự chết nhưng lại nghịch lý là chữa lành và cứu sống.

Giá trị của dấu hiệu thập giá dẫn tới một chiều kích khác được nhắc đến trong hệ thống hình tượng con rắn đồng của thánh Gioan, nghĩa là sự cần thiết của dấu hiệu “nhìn thấy.” Trong Ds 21, không chỉ đơn giản là con rắn đồng có thể chữa lành, mà là hành động nhìn lên nó. Thiên Chúa đòi hỏi sự hợp tác của dân chúng – dù chỉ thụ động – để được chữa lành. Hành động phải kết hợp với niềm tin: “Tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời.” (Ga 6:40; x. Ga 19:35; Ga 20:8)

Mầu nhiệm được mạc khải cho những người tin. Thánh Gioan dẫn lời chứng Dcr 12:10: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu,” (Ga 19:37) nghĩa là tin vào Đấng Mêsia đã chịu đau khổ và chịu chết vì tội chúng ta. Ai ngước nhìn lên Đức Kitô chịu treo trên thập giá và tin Ngài là Con Thiên Chúa thì sẽ được hưởng ơn cứu độ.

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ từ https://speakingofscripture.wordpress.com

CON RẮN

Rắn là biểu tượng của cả cái xấu và cái tốt. Nhưng người ta thường chỉ nhìn rắn bằng con mắt không chút thiện cảm, vì cho rằng rắn là loài nham hiểm và độc ác.

Thời xưa, các vua Pharaô Ai Cập thường sử dụng hình con rắn há miệng làm biểu tượng của sự sống.

Chắc hẳn chẳng ai lại không biết rắn. Rắn đứng hàng thứ 6 trong 12 con giáp. Rắn thuộc loài bò sát, là động vật máu lạnh, và cùng lớp với các loài có vảy như thằn lằn, tắc kè, nhưng rắn không có chân vì bị Thiên Chúa nguyền rủa: “Mi phải bò bằng bụng.” (St 3:14) 

Có nhiều loại rắn. Rắn nào cũng có độc tố, chỉ khác nhau mức độ độc hại. Còn có loại rắn hai đầu, chặt mất đầu này nhưng đầu kia vẫn sống. Rắn nước có vẻ “hiền lành” nhất nhưng được coi là chúa các loài rắn. Nghe nói rằng ai ăn được 3 mật rắn nước thì dù bị rắn nào cắn cũng không sao, và còn có thể “đánh mùi” được rắn đang xuất hiện đâu đó.

Tất cả các loài rắn đều là loài ăn thịt. Chúng có thể ăn cả những con rắn khác và các động vật có vú, các động vật nhỏ như thằn lằn, chim, sâu bọ, kể cả trứng của các loài khác. Một số loài rắn có nọc độc để giết chết con mồi trước khi ăn, một số loài rắn khác thì xiết con mồi đến chết, có những loài rắn nuốt sống cả con mồi.

Sau khi ăn, rắn trở nên lười biếng và thụ động khi hệ tiêu hóa bắt đầu làm việc. Lúc này, hệ tiêu hóa hoạt động rất mạnh, nhất là khi phải tiêu thụ con mồi lớn. Ở một số loài rắn, toàn bộ hệ tiêu hóa sẽ nghỉ ngơi giữa những bữa ăn để tránh thất thoát năng lượng vì rắn ăn khá ít.

Người xưa có câu: “Rắn già, rắn lột; người già, người tuột vào hang.” (Ý nói người già thì chết, “hang” ở đây là huyệt mộ.) Khi rắn lột da, nếu không có đủ độ ẩm thì sẽ rất nguy hiểm, lớp da khô không thể bị lột ra. Lớp da bám lại sẽ là nơi sản sinh ra bệnh tật và vi khuẩn. Một phần nhỏ ở cuối đuôi rắn không hề thay đổi khi rắn lớn lên. Rắn tự cắt đứt đường máu đưa tới khúc đuôi “thừa” và từ từ phần đuôi đó sẽ rụng.

Toàn thân rắn được bao bọc bởi một lớp vảy. Những chiếc vảy này rất cứng, không lớn lên tương ứng theo sự trưởng thành của thân rắn. Vì vậy, cứ 2-3 tháng rắn phải thay da một lần. Những chiếc vảy này không chỉ giúp rắn bảo vệ mình mà còn có chức năng như bàn chân để có thể trườn bò. Một số loại rắn đặc biệt có khả năng lướt nhanh, chúng có thể “lướt” rất xa, tầm phóng xa khoảng gần 14 m.

Nọc rắn tuy độc hại, có thể giết chết người, nhưng chính độc tố đó lại có thể cứu người. Đúng như tiền nhân nói: “Dĩ độc trị độc.” Y học đã dùng hình tượng rắn làm biểu tượng. Nọc độc rắn có thể là “độc tố thần kinh” (tấn công hệ thần kinh) hoặc “độc tố máu” (tấn công hệ tuần hoàn). Rắn độc sử dụng độc tố máu thường có nanh tiết chất độc ở trước miệng, giúp chúng dễ dàng tiêm thẳng chất độc vào nạn nhân. Rắn sử dụng độc tố thần kinh có nanh nằm ở phía sau miệng, và nanh đó cong về phía sau.

Theo Đông y, thịt rắn làm thông kinh mạch bị bế tắc và trừ phong hàn nên được dùng để trị các chứng phong thấp. Nó cũng có khả năng chữa trị chứng tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm (eczema). Rắn là nguồn cung cấp chất đạm rất tốt, thịt rắn tương đối nạc, ít mỡ, vì rắn vận động nhiều. Thịt rắn chứa nhiều vitamin và khoáng chất quý như kali, canxi, sắt, kẽm, vitamin A, D, B1, B2, B6, B9,...

Đông y dùng rắn dưới nhiều dạng: Ngâm rượu, nấu cháo, rượu pha máu rắn, ăn mật rắn. Y học cổ truyền Trung quốc có kê những toa thuốc lấy từ 2 loại rắn: một từ rắn độc Bạch Hoa xà (chỉ chung 2 loài rắn hổ và cạp nong) và một từ rắn nước gọi là Ô Sao xà.

Đông y cho rằng rắn (không kể phủ tạng) có tính ấm, vị ngọt, tác động vào Can Kinh và Tỳ Kinh. Cả hai loại trên có tác dụng như nhau, nhưng rắn nước thì yếu hơn. Thịt rắn được dùng để trị các chứng phong thấp, tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm. Da rắn sau khi lột (xà thuế) có tính bình, vị ngọt mặn, có tác dụng khu phong, chống co giật nên được dùng trị bệnh phong ngứa ngoài da, và động kinh ở trẻ em.

Huyết rắn làm tăng sinh lực, bổ thận, có thể dùng chung với mật rắn để tạo thành “huyết xà đởm.” Mật rắn vị đắng, tính hàn, có thể làm hạ hỏa và tiêu đờm do nhiệt gây ra. Mật rắn cũng giúp làm tan máu bầm, được ngâm rượu để chữa chứng nhức xương và phong thấp. Nói chung, rắn tuy độc nhưng cũng có nhiều ích lợi.

Rắn được coi là “biểu tượng” của sự độc ác, ám chỉ những người ranh mãnh, lọc lừa, gian dối, quỷ quyệt, không nên tiếp cận mà phải tránh xa. Người ta thường dùng thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà” để chỉ những kẻ đưa kẻ thù về làm hại gia đình hoặc tổ quốc mình – tương tự câu “rước voi về giày mả tổ.”

Rắn cũng là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Cựu Ước nhiều lần nói tới loài rắn. Thuở hồng hoang, chính con rắn đặt vấn đề với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” (St 3:1) Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.” (St 3:2) Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu!” (St 3:4)

Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế?” Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.” (St 3:13) Thiên Chúa phán với con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.” (St 3:14) Thiên Chúa nói tiếp: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” (St 3:15) Và dù rắn nham hiểm thì cũng không còn có thể ngóc đầu lên được nữa!

Ông Giacóp đã có lời chúc phúc: “Ước gì Đan là một con rắn trên đường, một con rắn lục ở lối đi, cắn gót chân ngựa, khiến người cưỡi phải ngã ngửa.” (St 49:17) Có lần Thiên Chúa hỏi ông Môsê: “Tay ngươi cầm cái gì đó?” Ông đáp: “Thưa một cây gậy.” (Xh 4:2) Người phán: “Vất nó xuống đất đi!” Ông Môsê vất nó xuống đất, và nó hoá ra con rắn. Ông Môsê sợ hãi nên liền chạy trốn. (Xh 4:3)

Xh 7:8-13 ghi lại lời Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon: “Nếu Pharaô bảo các ngươi: Hãy làm một phép lạ xem thì ngươi hãy nói với Aharon: Anh cầm cây gậy của anh, ném xuống trước mặt Pharaô, và gậy sẽ hoá thành một con rắn to.” Ông Môsê và ông Aharon liền đến với Pharaô và làm như Đức Chúa đã truyền. Ông Aharon ném cây gậy của mình xuống trước mặt Pharaô và bề tôi của vua: gậy hóa thành một con rắn to. Pharaô cũng triệu các hiền sĩ và pháp sư đến; và các phù thủy Ai Cập cũng dùng phù phép của mình mà làm như vậy: mỗi người ném cây gậy của mình và gậy hóa thành một con rắn to. Nhưng gậy của ông Aharon nuốt gậy của họ. Dù vậy, Pharaô vẫn cứng lòng, không nghe ông Môsê và ông Aharon, như Đức Chúa đã nói trước.

Thiên Chúa lại phán với Môsê: “Ngươi hãy đến nói với Pharaô lúc sáng sớm, khi nhà vua ra mé nước. Hãy đứng chờ để đón vua ở bên bờ sông Nin. Hãy cầm trong tay cây gậy đã biến thành rắn.” (Xh 7:15)

Trên hành trình 40 năm trong sa mạc để về Miền Đất Hứa, dân chúng không chịu nổi gian nan và chán ngán món manna vô vị phải ăn hằng ngày nên đã kêu trách cả Chúa lẫn ông Môsê. Chúa cho dịch rắn hoành hành, dân chúng sợ hãi và biết tội mình nên van xin ông Môsê cầu xin Chúa tha thứ. Thiên Chúa ra chỉ thị cho ông Môsê: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.” (Ds 21:8)

Và Tân Ước cũng nhiều lần nhắc tới loài rắn.

Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Sađốc đến chịu phép rửa, ông Gioan Tẩy giả nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Mt 3:7) Rồi một lần nọ, khi nói về việc cầu nguyện, Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?” (Mt 7:9-10; Lc 11:11)

Còn khi nói về việc truyền giáo, Chúa Giêsu nói: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.” (Mt 10:16) Với những người tà tâm, Chúa Giêsu quả quyết: “Loài rắn độc kia, xấu như các người thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.” (Mt 12:34) Hoặc lần khác, Ngài nói: “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục?” (Mt 23:33)

Nói về “dấu lạ” ở những người có lòng tin khi trừ quỷ nhân danh Ngài, Đức Kitô cho biết: “Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe.” (Mc 16:18) Khi đám đông lũ lượt kéo đến xin được làm phép rửa, ông Gioan nói với họ: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Lc 3:7)

Nhóm Mười Hai hớn hở báo cáo với Sư Phụ về việc ma quỷ chạy cụp đuôi khi nghe nói đến tên Giêsu, Đức Kitô nói với họ: “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.” (Lc 10:19) Nhưng Ngài nói thêm: “Chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” (Lc 10:20)

Cuối cùng, Đức Kitô nói về chính Ngài: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy.” (Ga 3:14)

Ngài nói về việc Ngài chịu chết nhục nhã trên Thập Giá vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương chúng ta. Đó là Giờ Cứu Độ, là thời điểm giọt Máu và giọt Nước cuối cùng chảy ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, và đó cũng là Giờ Thương Xót. Chính giây phút đó, Đức Kitô đã chứng minh Lòng Chúa Thương Xót là tha thứ mọi tội ác và mọi hình phạt đời sau cho tên cướp Dismas: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23:43)

Dù tội lỗi ngập đầu, thế mà Dismas (người trộm lành) đã được trắng án và là người đầu tiên được vào Nước Trời, dù trước đó Dimas chỉ nói một lời cầu xin đơn giản: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42) Thiên Chúa quá đỗi nhân từ!

Mùa Chay, đặc biệt vào Tuần Thánh, mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại hành trình Mùa Chay của mình xem đã canh tân được gì để trở thành “con người mới” theo đúng ý Chúa trong thời gian thuận tiện và cứu độ. (x. 2 Cr 6:2) Chắc hẳn điều kiện tiên quyết phải là TIN. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta liên lỉ thân thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài.” Vả lại, chính Ngài cũng đã xác định với các tông đồ: “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:6) Thật vậy, nhờ tin mà chúng ta khả dĩ nên công chính. (Rm 4:11)

Bí quyết canh tân là thực hiện lời Chúa Giêsu: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Canh tân bản thân để không chỉ ích lợi cho bản thân và gia đình, mà còn ích lợi cho xã hội, cho tổ quốc, và cho Giáo hội.

Con rắn thật của thời Cựu Ước là biểu tượng của tội lỗi, sự ác và sự chết. Con rắn đồng thời Cựu Ước lại là biểu tượng của sự sống, sự thiện và sự sống. Đức Kitô cũng bị treo lên như con rắn đồng xưa, và là biểu tượng của Ơn Cứu Độ. Chúa Giêsu đã nói với người Do Thái: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy.” (Ga 8:28) Và Ngài cũng đã hứa: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32)

Ngài đã và đang kéo chúng ta lên qua các Bí tích. Phần còn lại là chúng ta có tin hay không. Nếu cứng lòng tin, Chúa Giêsu sẽ cũng nói với chúng ta như đã nói với người Do Thái: “Quý vị sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” (Ga 8:21 & 24)

Mùa Chay, đặc biệt là Tuần Thánh, chúng ta hãy cùng các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” (Lc 17:5)

CON RẮN và CON NGƯỜI

[Niệm ý Ds 21:4-9; Ga 8:21-30]

Khởi đi từ núi Ho
Theo con đường Biển Sậy
Và cứ đi như vậy
Vòng qua miền Ê-đôm.
Sa mạc bốn mươi năm
Hành trình dài đằng đẵng
Dân chúng mất kiên nhẫn
Vì thiếu thốn thức ăn.
Họ than thở, cằn nhằn
Bỗng dưng đầy rắn độc
Cắn họ, nhiều người chết
Dân hoảng hốt, ăn năn.
Con rắn đồng treo lên
Ai nhìn sẽ được sống
Họ an tâm tin tưởng
Tiếp tục đời hành hương.
Ngày xưa con rắn đồng
Có sức mạnh kỳ lạ
Bởi vì chính Thiên Chúa
Ban quyền phép, hồng ân.
Ngày nay chính Ngôi Con
Đức Giê-su nhập thể
Ngài chính là Thiên Chúa
Hóa thân một Con Người.
Nhưng Ngài bị người đời
Chối từ và giết chết
Nhưng Ngài vẫn thương xót
Ban hồng ân thứ tha.
Ai tin tưởng thiết tha
Ngước nhìn lên Thánh Giá
Cầu xin Chúa nơi đó
Sẽ được cứu thoát ngay.
Khi giương cao Con Người
Mới biết Ngài là Chúa
Hằng hữu từ muôn thuở
Đấng cứu độ loài người.
Lạy Con Đức Chúa Trời
Con xin được tín thác
Vào Ngài mãi trọn kiếp
Xin thương cứu độ con!
 

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.