LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
1/ Dẫn nhập
Trong xã hội hiện đại, con người bị cuốn vào guồng quay của sự phát triển khoa học, kỹ thuật; một xã hội đề cao tiền bạc, danh vọng, địa vị, chạy theo lối sống thực dụng và hưởng thụ nên người ta cũng dễ dàng lấy thước đo vật chất làm mục đích sống cho mình. Trước thực trạng chai lì của một thế giới ngày càng thiếu vắng tình thương, người Kitô hữu được mời gọi loan báo và làm chứng mạnh mẽ và hữu hiệu hơn về lòng thương xót của Chúa. Thế nên, vào năm 2000, trong thánh lễ tuyên phong hiển thánh cho nữ tu Faustina Kowalska, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ấn định ngày Chúa nhật trong tuần bát nhật Phục Sinh hàng năm là ngày lễ kính Lòng thương xót của Thiên Chúa. Bởi vì, sự cấp thiết cần phải loan báo và làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa trong thế giới ngày nay là điều có tính chất quyết định đối với Giáo Hội. Ở bất cứ nơi nào có Giáo Hội hiện diện thì nơi đó, lòng thương xót của Thiên Chúa phải trở thành điều hiển nhiên, tỏ tường và ở đâu có các tín hữu Kitô giáo, nơi đó phải là một nơi mà người ta có thể tìm được lòng thương xót.
2/ Khái niệm về “lòng thương xót”
Trong tiếng Việt, từ “thương xót” được dịch từ “misericordia” trong tiếng Latinh và từ “mercy” trong tiếng Anh. Trong tiếng Latinh, “misericordia” thường được giải thích theo tầm nguyên là ghép bởi “miserum” và “cor-” trái tim, biết xúc động trước nỗi khổ của người khác. Để có một định nghĩa, Thánh Tôma Aquinô đã dựa theo sự phân tích tầm nguyên của Thánh Augustinô (misericordia, cor miserum), như là sự thông cảm (compassio) đứng trước nỗi khổ của tha nhân (compassio super miseria aliena).
Theo nghĩa trong Thánh Kinh, từ “misericordia” được dùng để dịch nhiều từ ngữ với ý nghĩa khác nhau trong tiếng Hipri và Hy Lạp. Trong tiếng Hipri có hai từ chính: “hesed” và “rahamim”. Từ “hesed”: bao hàm tình thương mang theo sự trung tín dựa trên một lời hứa, ra như có suy xét. “Rahamim”: trắc ẩn, cảm thông, dịu dàng, âu yếm, gắn với “rechem” (bụng dạ, lòng ruột), ra như muốn nêu bật tình cảm tự nhiên phát xuất từ liên hệ ruột thịt. Ví dụ trong lần thứ hai Thiên Chúa mặc khải về Danh của Người cho ông Môsê khi đi qua trước mặt ông: “Ta thương ai thì thương (hen), xót ai thì xót (rahamim)” (Xh 33,19). Trong tiếng Hy Lạp có ba từ, thứ nhất là “éleos:” diễn tả thái độ cảm thông (động từ elein: tỏ lòng thương xót; tính từ eleêmon: biết thương xót; eleêmosyne: việc từ thiện), được dùng để dịch từ “hesed”. Từ thứ hai là “splanchna:” gắn liền với lòng dạ, nơi xảy ra thái độ cảm thông (tương đương rahamim trong tiếng Hipri) và động từ splanchnízomai (tỏ ra cảm thông). Từ thứ ba là “oiktirmos” (danh từ) và “oiktimôn” (tính từ): diễn tả sự xúc động trước nỗi khổ của tha nhân, trắc ẩn; tuy nhiên từ này ít thông dụng.
Như vậy ở khía cạnh từ ngữ và ý nghĩa của “lòng thương xót” (misericordia), chúng ta nhận thấy “misericordia” không chỉ là một giá trị nhân bản, nhưng nó chính là một nhân đức thành phần của “caritas” (đức mến), khiến cho ta cảm thông với nỗi khổ của tha nhân, theo ngôn ngữ của Thánh Tôma Aquinô. Còn trong Thánh Kinh với từ quan trọng để hiểu về lòng thương xót là “hesed,” nó không chỉ là một cảm xúc đơn giản như cảm giác đau đớn trước nỗi khốn khổ của con người, mà trên hết nó là sự ân cần hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa dành cho con người. Được gán cho Thiên Chúa, từ này phác họa một món quà của ân sủng Chúa, món quà không được chờ đợi, không xứng đáng, độc lập với sự trung tín của con người, vượt lên trên mọi hy vọng của con người và làm tan vỡ mọi phạm trù đặt ra.
3/ Lòng thương xót của Chúa được biểu lộ qua sự hiện diện của Người trong lịch sử cứu độ
Thánh Tôma Aquinô đã khẳng định: Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là một thứ cảm xúc hời hợt, một cảm tính nay còn mai mất, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa được trình bày qua hành động tích cực nhằm xua trừ khổ đau và mang lại niềm hạnh phúc cho con người (x. Summa Theologica, I, q. 21, a. 3). Thật vậy lòng thương xót của Thiên Chúa không là một khái niệm mơ hồ, một ngôn từ do sáng kiến của con người thêu dệt nên, nhưng đó là một thực tại cụ thể sống động qua con người Đức Giêsu Kitô, Người Con duy nhất của Thiên Chúa, được sai đến trần gian để bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Điều đó chứng tỏ rằng lòng thương xót của Thiên Chúa không là một hành vi can thiệp từ bên ngoài như là một sự thương cảm mang tính khách quan của người giàu bố thí một chút của cải cho người nghèo, hay là một cảm xúc chóng qua, nói như Giáo Hoàng Benedicto XVI: “cảm xúc đến rồi sẽ qua đi, cảm xúc có thể là một tia sáng khai mở điều kỳ diệu, nhưng tổng thể của tình yêu thì không phải thế” (Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, số 17). Lòng thương xót của Thiên Chúa đã tự ràng buộc với thụ tạo của Người bằng một tình thương đặc biệt, điều mà Thiên Chúa đã bày tỏ “Ta đã yêu thương ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3), dẫu cho: “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10). Thiên Chúa xót thương nhân loại đến độ Người cảm thấy đau thương vì những nỗi khổ đau họ đang mang vác, và Người sẵn sàng hạ cố để gánh lấy nỗi thương đau đó và mang lại hạnh phúc cho nhân loại, đó là một hành vi mang đặc tính thâm sâu của một mối tương quan tình yêu Phụ-tử hay là tình yêu Phu-phụ, điều mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày:“Tất cả tình thương của Thiên Chúa đều được biểu lộ trong lòng thương xót của Ngài đối với dân Ngài: Ngài là Cha họ, bởi vì Israel là con đầu lòng của Ngài; Ngài cũng là vị hôn phu của dân được ngôn sứ loan báo cho một tên mới: ruhama “được yêu thương”, vì sẽ được hưởng lòng xót thương” (Thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót, số 4).
Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là một cụm từ hoa mỹ về sự ban phát để thoả lòng tự ái, nhưng là một sự trao hiến phát xuất do bởi một tình yêu từ con tim đến con tim. Một hành vi yêu thương đến độ trao hiến thân mình vì thiện ích của người “được yêu thương” chỉ có thể được thực hiện từ một sự hiện diện của “người yêu” bên cạnh “người được yêu”. Có thể nói, lịch sử của dân Chúa là một lịch sử về sự hiện diện của Thiên Chúa nơi dân Người. Thật vậy, trước khi thực hiện cuộc giải phóng Israel ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã biểu tỏ sự hiện diện của Người nơi các tổ phụ qua các cuộc gặp gỡ với các ngài. Từ cuộc gặp gỡ với Abraham, Isaac, Jacob tới cuộc gặp gỡ với Môsê. Các cuộc gặp gỡ đó không là những câu chuyện hàn huyên bình thường, mà là những mặc khải về một kế hoạch cứu chuộc con người khỏi đau khổ do tội gây nên, một kế hoạch phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Thiên Chúa được biểu tỏ cách đặc biệt nhất, khi Người giải phóng dân Israel ra khỏi Ai Cập, thiết lập nên một đất nước hùng mạnh, làm cho mọi dân khi nghe đến đều phải khiếp hãi. Và dấu chỉ của sự hiện diện đó được trình bày từ việc Thiên Chúa ngự trong Lều Tạm qua sự hiện diện của Hòm Bia Giao Ước cho đến Đền Thánh Jerusalem được coi là ngai tòa ngự trị của Thiên Chúa. Với sự hiện diện này, dân Chúa nhận được sự chăm sóc đầy yêu thương của Thiên Chúa, từ việc ban lương thực để nuôi dân trên con đường hành trình trong sa mạc về Đất Hứa, tới việc giáo dục, huấn luyện dân trở thành một dân tư tế, một dân hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Tất cả đều là ân huệ từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì:
Bằng hành động cũng như bằng lời nói, Thiên Chúa đã mặc khải lòng thương xót ngay từ khi Ngài chọn dân Israel; và trải qua suốt lịch sử của họ, trong những nỗi bất hạnh cũng như trong nhận thức tội lỗi của họ, dân ấy đã không ngừng cậy trông nơi Thiên Chúa đầy lòng thương xót. Sự hiện diện đó đã đạt tới đỉnh cao qua việc nhập thể của Ngôi Lời. Với sự hiện diện này, con người thực sự được chiêm ngưỡng và đụng chạm đến lòng thương xót của Thiên Chúa cách cụ thể. Thực vậy,… trong lịch sử, tình yêu mà Thánh Kinh tường thuật cho chúng ta, Thiên Chúa đi đến với chúng ta, tìm cách chinh phục chúng ta mãi cho đến bữa Tiệc ly, mãi cho đến trái tim bị đâm thâu trên thập giá, mãi cho đến những lần hiện ra của Đấng Phục sinh và những kỳ công của Người.
Thiên Chúa tìm cách chinh phục con người đâu phải vì con người tốt lành, mà chỉ vì lòng thương xót của Thiên Chúa dành để cho con người bất trung và bội phản. Thiên Chúa không nỡ để con người trầm luân khổ đau vì tội, Ngài quyết ra tay cứu thoát công trình do tay Ngài tạo thành vì lòng thương xót của Ngài. Sự hiện diện của Chúa Kitô trên trần thế và cuộc sống của Người đã mặc khải tình thương hiện diện của Thiên Chúa Cha trong thế giới chúng ta sống, tình thương tích cực, tình thương được gởi đến cho con người, tình thương đó bao gồm tất cả những gì làm thành nhân tính của con người. Tình thương này càng nổi bật hơn khi tiếp xúc với đau khổ, với bất công, nghèo khó, với tất cả ‘thân phận con người’ trong lịch sử. Cách này hay cách khác, thân phận đó biểu lộ tính chất hữu hạn và mong manh của con người, cả về thể xác lẫn tinh thần. Do đó, theo ngôn ngữ Thánh Kinh, các cách thức và những lãnh vực nào mà tình thương được biểu lộ, thì được gọi là “lòng thương xót” (Thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót, số 3).
4/ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa được mặc khải trên Thánh giá và trong sự Phục sinh
Sứ vụ của Đức Kitô và hoạt động của Người giữa nhân loại kết thúc bằng cái chết trên Thập giá và sự Phục Sinh. Chúng ta phải thẩm thấu sự kiện cuối cùng này, nhất là theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II xác định là mầu nhiệm Vượt Qua– nếu chúng ta muốn diễn tả sâu sắc sự thật về Lòng Thương Xót, như được mặc khải trong lịch sử cứu độ.
Thực tế của ơn cứu độ, theo chiều kích con người, đã mặc khải những điều chưa từng nghe biết – về sự cao cả của con người, như bài ca Exsultet (công bố trong đêm Vọng Phục Sinh) mô tả: “Tội hồng phúc đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, ngay lúc chiều kích cứu độ của Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể hồi sinh theo cách kinh nghiệm nhất và lịch sử nhất, để tiết lộ chiều sâu của tình yêu không chùn bước trước sự hy sinh khác thường của Chúa Con, để thỏa mãn lòng trung thành của Chúa Cha đối với loài người, tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người và chọn chúng ta từ khởi nguyên, nơi Chúa Con, đối với ân sủng và vinh quang.
Các sự kiện của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, thậm chí trước đó, trong lời cầu nguyện tại Ghết-si-ma-ni, giới thiệu sự thay đổi nền tảng của toàn bộ sự mặc khải về tình yêu và Lòng Thương Xót trong sứ vụ của Đức Kitô. Người “thi ân giáng phúc, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế” (Cv 10,38), đồng thời “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9,35), chính Người thực hiện và kêu gọi Lòng Thương Xót, khi Người bị bắt, bị đối xử tệ, bị kết án, bị đánh đòn, đội vòng gai, bị đóng đinh vào thập giá và chết trong đau đớn vô cùng (x. Mc 15,37; Ga 19,30).
Lúc đó Người xứng đáng nhận lòng thương xót từ những con người mà Người đã làm tốt cho họ, nhưng Người đã không nhận được. Ngay cả những người thân tín nhất cũng không thể bảo vệ Người khỏi kẻ ác. Ở giai đoạn cuối cùng của sứ vụ, các lời tiên tri, nhất là của ngôn sứ Isaia nói về Người Tôi Tớ Đau Khổ, hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Kitô: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,5).
Đức Kitô, là người chịu đau khổ trong Vườn Cây Dầu và trên đồi Can-vê, đã thưa với Chúa Cha rằng Người đã thể hiện tình yêu của Chúa Cha cho mọi người. Nhưng Người cũng không được thoát khỏi đau khổ và cái chết trên Thập giá: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5,21).
Thánh Phaolô viết về chiều kích thực tế của ơn cứu độ. Chính ơn cứu độ này mặc khải tính thánh thiêng của Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện, đầy đủ công lý và yêu thương, bởi vì công lý dựa trên yêu thương.
Trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, Chúa Cha không tha chính Con mình, nhưng “vì chúng ta mà tự nhận thân phận như tội nhân”, công lý được diễn tả, Đức Kitô chịu đau khổ và chấp nhận Thập giá vì tội lỗi nhân loại. Điều này cấu thành “sự dồi dào” của công lý, vì tội lỗi của loài người “được đền bù” nhờ sự hy sinh của Thiên-Chúa-Làm-Người.
Công lý này như là “tiêu chuẩn của Thiên Chúa”, hoàn toàn nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, và sinh hoa kết trái trong tình yêu. Vì thế, công lý của Chúa mặc khải trên Thánh giá của Đức Kitô là “chiều kích của Thiên Chúa” vì nhiệm xuất từ tình yêu và được hoàn tất trong tình yêu, sinh ra hoa trái ơn cứu độ.
Chiều kích ơn cứu độ được đặt trong hiệu quả không chỉ bằng cách đem lại công lý để chịu đựng tội lỗi, mà còn phục hồi tình yêu nơi con người, vì chính con người đã từng viên mãn sự sống và sự thánh thiện đến từ Thiên Chúa. Theo cách này, ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về Lòng Thương Xót cách viên mãn.
Mầu nhiệm Vượt Qua là tột đỉnh của sự mặc khải này và hiệu quả của Lòng Thương Xót, có thể biện hộ cho con người, phục hồi công lý theo nghĩa của mệnh lệnh cứu độ mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng nhân loại.
Những người không có niềm tin cũng có thể khám phá nơi Đức Kitô về mối liên kết với số phận con người, cũng như sự hài hòa trọn vẹn của sự dấn thân vô vị lợi vì con người, vì chân lý và vì yêu thương. Nhưng chiều kích của mầu nhiệm Vượt Qua còn thâm thúy hơn. Thập giá trên đồi Can-vê, nơi Đức Kitô đã đối thoại lần cuối với Chúa Cha, nổi bật lên từ chính trái tim yêu thương của con người, vốn được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, đã được làm thành tặng phẩm theo kế hoạch đời đời của Thiên Chúa.
Như Đức Kitô đã mặc khải, Thiên Chúa không chỉ thân thiện với thế giới theo tư cách Tạo hóa và nguồn hiện hữu, mà Người còn là Cha: Người liên kết với con người, và Người mời gọi họ hiện hữu trong thế giới vô hình, bằng mối liên kết thân mật hơn. Đó là tình yêu không chỉ tạo điều tốt mà còn cho tham dự vào sự sống của Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì Người yêu thương và muốn trao ban chính mình; đồng thời Người cũng mời gọi chúng ta chia sẻ chân lý và tình yêu nơi Thiên Chúa.
Tín điều Công đồng Nicê-Constantinopoli xác nhận: “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Thập giá là bằng chứng tuyệt vời về giao ước của Thiên Chúa đối với nhân loại – mỗi con người đều là giao ước này. Thập giá là giao ước mới đã được thiết lập trên đồi Can-vê, không hạn chế với một người nào.
Thập giá của Đức Kitô đã nói lên một sứ điệp rất quan trọng, đó là: “Đức Kitô đã phục sinh”.
Những người thấy ngôi mộ trống trở thành nhân chứng về Đức Kitô phục sinh. Nhưng ngay trong vinh quang Thiên Chúa, thập giá vẫn còn đó. Thập giá vẫn nói và không ngừng nói về Thiên Chúa Cha, Đấng tuyệt đối trung tín với tình yêu đời đời của Người đối với nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).
Lòng Thương Xót là tình yêu tuyệt đối. Tin vào tình yêu này là tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Tin vào Chúa Con bị đóng đinh là “thấy Chúa Cha” (x. Ga 14,9), nghĩa là tin tình yêu đó hiện hữu trong thế giới và tình yêu này mạnh hơn mọi điều ác nơi mọi người, nơi nhân loại, hoặc cả thế gian. Lòng thương xót của Thiên Chúa chính là chiều kích tuyệt đối của tình yêu.
5/ Sức mạnh của tình yêu chiến thắng tử thần và tội lỗi
Thập giá của Đức Kitô trên đồi Can-vê cũng là nhân chứng đối với sức mạnh của sự ác chống lại Con Thiên Chúa, chống lại một người con trong những người con của nhân loại, con người đó có bản chất vô tội, chống lại những người sinh ra trong thế gian chưa bị hoen ố vì sự bất tuân phục của Adam và ảnh hưởng tội nguyên tổ. Và ở đây, chính nơi Đức Kitô, công lý được thực hiện đối với tội lỗi bằng giá máu hy sinh của Người, bằng cách “vâng lời cho đến chết trên Thập giá” (Pl 2,8).
“Ngài chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5,21). Công lý cũng được đem tới để liên quan cái chết, mà từ đầu lịch sử nhân loại đã bị nối kết với tội lỗi. Sự chết đã được công lý thực hiện bằng giá của cái chết của Con Người không hề có tội và chiến thắng bằng cái chết: “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 15, 54-57).
Chúa Con, Đấng đồng bản thể với Chúa Cha, đã hoàn lại công lý cho Thiên Chúa bằng chính Thập giá, đồng thời mặc khải lòng thương xót, đó là tình yêu trái ngược với những gì cấu thành nguồn gốc điều ác trong lịch sử nhân loại: chống lại tội lỗi và sự chết.
Thập giá là sự hạ mình sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đối với loài người và những số phận bất hạnh của loài người – nhất là những lúc khó khăn và đau khổ. Thập giá như là “cách tiếp xúc” của tình yêu vĩnh hằng đối với những vết thương của loài người; đó là sự hoàn tất trọn vẹn của chương trình cứu độ nhân loại mà Đức Kitô đã bày tỏ tại Đền Thờ ở Nadarét (x. Lc 4,18-21) và đã được ngôn sứ Gioan Tiền Hô lặp lại (x. Lc 7,20-23).
Theo cách nói của tiên tri Isaia (x. Is 35,5), chương trình cứu độ này cốt ở việc mặc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với người nghèo, người đau khổ, tội nhân, người mù, người bị đàn áp và bị bóc lột. Trong mầu nhiệm Vượt Qua, các giới hạn của “sự dữ” mà nhân loại “ăn chia” đã bị vượt qua. Thật vậy, thập giá của Đức Kitô làm chúng ta hiểu căn nguyên sâu xa của sự dữ, đã bị gắn sâu trong tội lỗi và sự chết; vì thế thập giá trở nên dấu hiệu tận thế.
Chỉ trong sự hoàn tất cuối cùng và sự canh tân cuối cùng của thế giới mà tình yêu sẽ chiến thắng, trong những người Chúa chọn, hoa trái chín muồi của vương quốc sự sống và vinh quang bất tử. Việc thiết lập sự hoàn tất cuối cùng này có nơi thập giá của Đức Kitô và trong cái chết của Người.
“Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba” (x. 1 Cr 15,4), điều đó cấu thành dấu hiệu cuối cùng của sứ vụ cứu độ, dấu hiệu hoàn tất toàn bộ mặc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa trong cái thế-gian-bị-cái ác-chế-ngự. Đồng thời cấu thành dấu hiệu tiên báo “trời mới và đất mới” (Kh 21,1), lúc “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).
Trong sự hoàn tất cuối cùng, lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ được mặc khải là tình yêu, trong khi trên thế gian, trong lịch sử nhân loại, cùng với lịch sử của tội lỗi và sự chết, tình yêu phải được mặc khải là lòng thương xót và cũng phải được hiện thực hóa là lòng thương xót của Thiên Chúa. Chương trình cứu độ của Đức Kitô, chương trình của lòng thương xót, trở thành chương trình của dân Chúa, chương trình của Giáo Hội.
Ngay tại trung tâm của chương trình đó luôn có thập giá, vì chính nơi thập giá mà sự mặc khải của lòng thương xót mới đạt tới đỉnh cao. Khi “những cái cũ bị tẩy sạch” (Kh 21,4), thập giá vẫn còn được dẫn chứng những từ ngữ trong sách Khải huyền của Thánh Gioan: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).
Theo cách đặc biệt, Thiên Chúa cũng mặc khải lòng thương xót khi Người mời gọi nhân loại “thương xót” Con Một là Đấng-bị-đóng-đinh. Đức-Kitô-bị-đóng-đinh chính là một Ngôi-Lời-không-qua-đi: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mt 24,35), và Người là người “đứng trước cửa và gõ vào cửa lòng của mỗi người”, không hạn chế tự do nhưng tìm cách rút ra từ chính lòng yêu chuộng tự do, đó không chỉ là hành động đoàn kết với Con-Người-chịu-đau-khổ (Đức Kitô), mà còn là dạng lòng thương xót được mỗi người trong chúng ta thể hiện với Con của Chúa Cha hằng hữu.
Trong toàn bộ chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong toàn bộ mặc khải về lòng thương xót qua thập giá, phẩm giá con người có thể được tôn trọng hơn và được đề cao hơn, vì đạt được Lòng thương xót. Đức Kitô đã xác định: “Các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu nói đến một trong các mối phúc, là: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Điều đó cấu thành một bản tổng hợp của toàn bộ Tân ước, toàn bộ “sự trao đổi tuyệt vời” bao gồm trong đó. Sự trao đổi này là luật của kế hoạch cứu độ, luật này vừa đơn giản, vừa mạnh mẽ, vừa dễ dàng.
Thể hiện ngay từ đầu những gì mà “trái tim con người” có thể thương xót, những từ ngữ này không từ Bài Giảng Trên Núi mặc khải viễn cảnh mầu nhiệm thẳm sâu của Thiên Chúa: Tính đồng nhất bí ẩn của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong đó tình yêu bao gồm công lý, đặt trong lòng thương xót, mặc khải sự hoàn hảo của công lý.
Mầu nhiệm Vượt Qua là Đức Kitô ở đỉnh cao của sự mặc khải về mầu nhiệm bí ẩn của Thiên Chúa. Đó là những lời được nói đã hoàn toàn nên trọn: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Thật vậy, Đức Kitô là Đấng mà Chúa Cha “cũng không tha” (Rm 8,32) vì nhân loại, Đấng phải chịu khổ hình thập giá đã không được nhân loại thương xót, Đấng đã mặc khải tình yêu viên mãn trong sự phục sinh của Người mà Chúa Cha đã dành cho Người, nơi Người, và cho nhân loại: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12, 27).
Trong biến cố phục sinh, Đức Kitô đã mặc khải Thiên Chúa của lòng thương xót, vì Người đã chấp nhận thập giá là đường tới phục sinh. Vì thế, khi chúng ta nhớ tới Thập giá, cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô, đức tin và đức cậy của chúng ta tập trung vào Đấng Phục Sinh: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20, 19-20). Rồi Người nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23).
Ở đây Chúa Con có kinh nghiệm về lòng thương xót đã được thể hiện với Người, nghĩa là tình yêu của Chúa Cha mạnh hơn tử thần. Đức Kitô cũng vậy, vào lúc cuối của sứ vụ cứu độ, Người đã mặc khải chính Người là Nguồn Thương Xót vô tận, về chính tình yêu ấy, trong viễn cảnh lịch sử cứu độ nơi Giáo Hội, được xác nhận là lớn hơn mọi tội lỗi của nhân loại.
Đức Kitô Vượt Qua là hiện thân cuối cùng của lòng thương xót, dấu hiệu sống động trong lịch sử nhân loại cho đến tận thế. Trong tinh thần đó, phụng vụ mùa Phục sinh đặt trên môi miệng chúng ta những lời ngợi khen, chúc tụng: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” (Tv 89, 2).
6/ Tạm kết
Thánh sử Gioan nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã tặng ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16.18). Vì tình yêu mà Thiên Chúa tạo dựng con người, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa cho Người Con duy nhất xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại, và cũng vì tình yêu mà Chúa Giêsu đã chết trên thập giá để cứu độ chúng ta. Điều quý báu nhất của Thiên Chúa Cha là Con Một của Người, Đức Giêsu Kitô. Khi tặng ban cho chúng ta Người Con đó, Thiên Chúa đã trao ban chính mình. Người muốn Đức Giêsu nhập thể làm người để trở nên Đấng trung gian đem tình yêu của Người xuống thế gian và dẫn đưa loài người sa ngã trở về.
Lòng thương xót là thế đó, luôn làm nẩy sinh những điều mới lạ để biểu lộ tình yêu, và những sáng kiến của tình yêu luôn biểu lộ tính độc đáo của lòng thương xót, nguồn mạch tuôn trào sự sống và niềm vui.
Người môn đệ Đức Kitô luôn được thúc đẩy yêu thương, cũng có nghĩa là luôn được thúc đẩy nảy sinh những sáng kiến để thực thi yêu thương trong các lãnh vực của cuộc sống nhân trần này. Những sáng kiến này với mục đích làm cho con người khám phá ra niềm vui của Tin Mừng, nhận ra Đức Kitô để kiến tạo một cộng đoàn sống trong tình huynh đệ đích thực, không kỳ thị phân chia, không phân cách bởi những vị thế, tình trạng sang hèn, giàu nghèo. Sáng kiến yêu thương này còn có thể “khôi phục cuộc hành trình gặp gỡ con người tại nơi họ đang sống: trong những thành phố và các gia đình, tại nơi họ làm việc”. Bởi “bất cứ nơi đâu có con người, Giáo Hội đều được kêu gọi hãy đến với họ và mang cho họ niềm vui Tin Mừng, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa” (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Bài giảng khai mạc Năm Thánh Lòng Thương xót, tại quảng trường Thánh Phêrô, Rôma, 08.12.2015).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống và loan truyền lòng thương xót của Thiên Chúa theo đúng thánh ý Người. Amen.
Phù Vân
SỐNG LÒNG THƯƠNG XÓT

Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Trong số những điểm nổi bật quan trọng nhất trong triều đại giáo hoàng của Thánh GH Gioan Phaolô II là cuối tháng 4 năm 2000. Vị thánh vĩ đại hiện đại này đã hoàn thành hai kỳ tích phi thường trong cùng một ngày. Ngài đã cử hành lễ tuyên thánh đầu tiên của thiên niên kỷ mới là tuyên thánh Nữ tu Faustina Kowalska (1905-1938) – người được biết đến với tư cách là Thư Ký của Lòng Chúa Thương Xót. Sau đó, ngài tuyên bố Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật tôn kính Lòng Chúa Thương Xót (LCTX).
Theo các nguồn tin nội bộ, đó là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời Thánh GH Gioan Phaolô II. Ngài cảm thấy rằng một trong những sứ mệnh chính của ngài khi bước vào thiên niên kỷ mới là nhu cầu thiết yếu để truyền bá thông điệp LCTX. Và điều đó đã được thực hiện.
Vì vậy, chúng ta hãy trình bày bản tóm tắt ngắn gọn về một số điểm nổi bật nhất của Học Thuyết về Lòng Chúa Thương Xót do Thánh Maria Faustina Kowalska truyền bá và được Thánh Gioan Phaolô II chính thức công bố.
1. THƯƠNG XÓT NHƯ CHA
Khi ai đó xúc phạm bạn, phản ứng tự nhiên là hận thù hoặc trả thù. Nhưng điều đó không có trong Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thật vậy, khi Ngài bị treo trên thập tự giá, lời đầu tiên của Chúa Giêsu là thể hiện lòng thương xót: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23:34)
Chúng ta hãy cố gắng tha thứ ngay lập tức. Điều này đẹp lòng nhất đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu và là phương tiện chắc chắn để đạt được LCTX đối với chúng ta. Bí quyết chiến thắng là THA THỨ NGAY LẬP TỨC. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.” (Ep 4:26)
2. TÔN KÍNH LINH ẢNH LCTX
Chúa Giêsu nói với Thánh Faustina Kowalska rằng Ngài muốn vẽ hình LTX. Sau đó, Ngài nói với Chị rằng Ngài muốn hình này được tôn kính trên toàn thế giới. Hãy có được một hình LCTX, được làm phép và được đặt ở nơi trang trọng trong nhà bạn.
Hãy bảo đảm rằng hình ảnh đó được đặt ở vị trí nổi bật. Điều này rất làm vui lòng Chúa Giêsu. Làm như vậy là bạn đang ngầm nói với tất cả những ai vào nhà bạn rằng Chúa Giêsu là Vua của nhà bạn, gia đình bạn và trái tim bạn.
3. CHUỖI LCTX
Cố gắng tập thói quen lần chuỗi LCTX. Ngắn gọn và dễ nhớ, chuỗi kinh này có thể đọc bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào. Chúa Giêsu bảo Thánh Faustina thường xuyên làm điều đó. Nếu thực hiện, điều này sẽ liên tục làm mưa LCTX vô hạn từ Thiên Đàng đổ trên thế giới. Bạn có thể lần chuỗi LCTX một mình, với người khác, trong gia đình, trước Thánh Thể, trong xe hơi, thậm chí ngay cả khi xếp hàng chờ đợi trong siêu thị.
4. GIỜ THƯƠNG XÓT
Hãy nhớ đến Giờ Lòng Thương Xót, nếu có thể. Đó là 3 giờ chiều, giờ mà Chúa Giêsu từ Thánh Giá đã trút linh hồn Ngài vào tay Cha Ngài: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Lc. 23:46) Vào giờ này, Chúa Giêsu bảo Thánh Faustina đi Đàng Thánh Giá hoặc viếng Thánh Thể. Nếu bận việc, Chúa Giêsu bảo Chị hãy nhớ đến cuộc khổ nạn đau thương của Ngài, kết hợp với nỗi thống khổ và giây phút cuối cùng của Ngài.
Nếu có thể thực hiện, qua việc kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, bất cứ điều gì chúng ta cầu xin nơi Cha, nếu đúng ý Ngài, điều đó sẽ được ban cho. Một số người khôn ngoan đặt giờ báo thức đồng hồ hoặc điện thoại như một lời nhắc nhở. Một ý tưởng thật hay!
5. CẦU CHO NGƯỜI HẤP HỐI
Khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta là lúc chúng ta sắp chết. Chúng ta chết như thế nào, nghĩa là tình trạng linh hồn của chúng ta – lành hay dữ, sẽ quyết định số phận chúng ta đời đời. Vì vậy, chúng ta nên liên tục cầu nguyện cho những người hấp hối trên khắp thế giới. Tuy nhiên, nếu bạn có dịp hiện diện khi ai đó hấp hối thì hãy hết lòng cầu nguyện cho họ. Đặc biệt nhất là cầu nguyện Chuỗi LCTX cho họ, để họ được chết trong ơn nghĩa của Thiên Chúa và được cứu rỗi đời đời. Chúa Giêsu đã hứa với Thánh Faustina rằng nếu một người sắp chết và được người khác cầu nguyện Chuỗi LCTX cho họ lúc đó, người hấp hối đó sẽ được cứu rỗi.
6. BÍ TÍCH THƯƠNG XÓT
LCTX phát xuất cách đầy đủ và hiệu quả nhất qua Nhiệm Thể Đức Kitô và qua các Bí Tích. Mỗi Bí Tích thông ban một đặc sủng. Bí Tích Giải Tội thông ban LCTX vô hạn. Trong mỗi Bí tích, Máu Thánh Chúa Giêsu đổ ra trên đồi Canvê xuống tâm hồn hối nhân và rửa sạch họ. Sự chuẩn bị cho việc xưng tội càng tốt thì ân sủng của sự chữa lành và LCTX càng dồi dào! Hãy tập thói quen xưng tội thường xuyên.
7. SỨ ĐIỆP LCTX
Không nghi ngờ gì nữa, một trong những cách tốt nhất mà chúng ta có thể làm quen với sứ điệp LCTX là sở hữu cuốn Nhật Ký: LCTX trong Linh Hồn Tôi của Thánh Maria Faustina Kowalska. Sau đó, tập thói quen đọc và suy ngẫm về ít nhất một số mỗi ngày – gồm 1828 số. Nhật Ký là mỏ vàng của sự giàu có và kho báu tâm linh. Hãy chia sẻ những gì bạn đã đọc với người khác, đó là cách chắc chắn để phát triển đức tin của chính mình.
8. THÁNH LỄ VÀ LCTX
Hai tia sáng phát ra từ linh ảnh LCTX mang một ý nghĩa biểu tượng và diễn giải sâu sắc. Khi Thánh Tâm Chúa Giêsu bị đâm xuyên qua bởi ngọn giáo trên Thập Giá, Máu và Nước tuôn trào ra. Tia sáng trắng tượng trưng cho hai Bí Tích của sự thanh tẩy và sự chữa lành: Rửa Tội và Giải Tội. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Thánh Thể.
Xin cho tất cả chúng ta có một lòng khao khát nhiệt thành được rước Mình Thánh Chúa thường xuyên và sốt sắng nhất! Ước gì những lời này của Thánh Vịnh gia là nét đặc trưng về sự khao khát của chính chúng ta: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.” (Tv 42:1)
9. CHÚA NHẬT LCTX VÀ LỜI HỨA
Chúa Giêsu đã hứa rằng những ai tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật II Phục Sinh – Chúa Nhật LCTX, và rước lễ một cách tốt đẹp – nghĩa là không mắc tội trọng, sẽ nhận được ân sủng đặc biệt của sự tha thứ cho mọi tội lỗi của họ, cũng như được tha mọi hình phạt tạm thời do tội lỗi gây ra, bao gồm cả những tội lỗi trong quá khứ. Đó là một ân sủng và tặng phẩm đặc biệt mà chúng ta nên tận dụng dịp đại lễ này.
Điều này cũng có nghĩa là chúng ta nên xưng tội khi gần đến Chúa Nhật Lễ Trọng LCTX. Nếu chúng ta chết vào ngày hôm đó, chúng ta sẽ lên thẳng Thiên Đàng. “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 136:1-26) Và ngay cả khi chúng ta không chết, chúng ta cũng được tha hình phạt vì những tội lỗi đã phạm kể từ ngày đó. Đó là ân sủng và tặng phẩm phi thường!
10. ĐỨC MẸ THƯƠNG XÓT
Một trong nhiều tước hiệu của Đức Mẹ là “Đức Mẹ Thương Xót.” Thật vậy, trong lời cầu chúng ta đọc ở cuối Kinh Mân Côi là Kinh Lạy Nữ Vương, chúng ta kêu xin Mẹ Maria những lời này: “Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui,… Ôi khoan thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.” Trong những giây phút thử thách, chúng ta hãy ngước nhìn Mẹ Maria. Khi vấp ngã, chúng ta hãy kêu xin Mẹ, và Mẹ sẽ giúp đỡ để nâng chúng ta đứng dậy.
Ước gì những lời của Thánh Bernard trong Kinh Hãy Nhớ (Memorare) sẽ truyền cảm hứng cho chúng ta đặt niềm tin vào Đức Mẹ nhân từ: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bàu chữa cứu giúp mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời.”
VĨ NGÔN
Tất cả chúng ta hãy suy gẫm, cầu nguyện, trân trọng và yêu mến điều vĩ đại nhất trong tất cả các thuộc tính của Thánh Tâm Chúa Giêsu – Lòng Thương Xót của Ngài. Chúng ta hãy không chỉ hiểu LCTX trong tâm trí của mình, mà còn sống LCTX trong suốt đời chúng ta. Một bước quan trọng nữa: Chúng ta hãy quyết định noi gương Thánh Faustina Kowalska để trở thành những Tông Đồ đích thực của LCTX.
Khi tất cả được nói và làm xong, sự cứu rỗi đời đời của linh hồn bất tử của chúng ta vả của mọi người đều phụ thuộc vào việc nương tựa và tín thác vào LCTX. Hãy để những lời này vang vọng cả ngày lẫn đêm trong tâm trí, trái tim và linh hồn chúng ta: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài! Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài! Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”
THỜI CUỐI và LÒNG THƯƠNG XÓT
Chiến tranh loạn lạc khắp nơi
Tai ương, bệnh dịch, thiên tai hoành hành
Ngày đêm nhân loại giật mình
Sợ lo đủ thứ, chông chênh bước đời
Tiên tri giả xuất hiện rồi
Hiểm nguy đe dọa, đất trời nghiêng chao
Con người biết trốn nơi nào
Mau hãy trốn vào Lòng Chúa Xót Thương
Đây là thời điểm cuối cùng
Quyết tâm cố gắng sẵn sàng luôn luôn
Nguyện cầu Thiên Chúa xót thương
Chở che nâng đỡ chúng con đêm ngày
Mặt trời múa, mặt trời xoay
Đó là dấu hiệu của Ngày Công Minh
Đừng dao động, hãy giữ mình
Khi Chúa công bình vinh hiển giáng lâm.
ÂN HUỆ CUỐI CÙNG
Hãy mau đáp lại bây giờ
Khi mà vẫn kịp trong Giờ Xót Thương
Người ơi! Mau đến tựa nương
Suối nguồn Thương Xót muôn trùng bao la
Cửa Thương Xót, cửa nhân từ
Ai dám chối từ bị xử công minh
Thời kỳ cuối đã rành rành
Rồi ngày công lý sẽ nhanh đến gần
Là ngày Đức Chúa quang lâm
Ngày công lý ấy muôn phần khiếp kinh
Người ơi! Đừng có coi khinh
Cũng đừng giả điếc, ngông nghênh ngang tàng
Không tin Lòng Chúa Xót Thương
Thật là bất hạnh vô cùng, người ơi!
Lòng Thương Xót của Chúa Trời
Là ân huệ cuối cùng thời chúng ta
Chuyện về hỏa ngục không đùa
Hoàn toàn có thật không hề sai đâu!
TRẦM THIÊN THU
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.