Suy niệm tĩnh tâm của Thượng Hội đồng
“Vẫn hy vọng mặc dầu không còn gì để hy vọng”
Vào sáng Chúa nhật, Cha Timothy Peter Joseph Radcliffe, O.P. và cựu Bề trên Dòng Giảng Thuyết, đã suy tư về ý nghĩa của “Vẫn hy vọng mặc dầu không còn gì để hy vọng” với những người tham gia Đại hội đồng Thượng Hội đồng Giám mục bắt đầu vào Thứ Tư, ngày 4 tháng 10.
Suy niệm 1
“Vẫn hy vọng mặc dầu không còn gì để hy vọng”
Ngày 1 tháng 10 năm 2023
Khi Đức Thánh Cha yêu cầu tôi tổ chức buổi tĩnh tâm này, tôi cảm thấy vô cùng vinh dự nhưng lại rất lo lắng. Tôi nhận thức sâu sắc về những hạn chế của cá nhân mình. Tôi già – da trắng – người Tây Phươg – và là đàn ông! Tôi không biết cái nào tệ hơn! Tất cả những khía cạnh này trong danh tính của tôi đều hạn chế sự hiểu biết của tôi. Vì vậy tôi xin quý vị tha thứ cho sự thiếu sót trong lời nói của tôi.
Tất cả chúng ta đều hoàn toàn không hoàn thiện và cần có nhau. Karl Barth, nhà thần học Tin Lành vĩ đại, đã viết về cái “cả/và” của Công giáo. Ví dụ, Kinh thánh và truyền thống, đức tin và việc làm. Người ta nói rằng ông đã gọi nó là cái “Và” Công giáo chết tiệt, “das verdammte katholische “Und”. Vì vậy, khi chúng ta lắng nghe nhau trong những tuần tới và không đồng ý, tôi cầu nguyện rằng chúng ta sẽ thường xuyên nói, “Có, và…..” thay vì “Không”! Đó là cung cách của Thượng hội đồng. Tất nhiên, nói Không đôi khi cũng cần thiết!
Trong bài đọc thứ hai trong Thánh Lễ hôm nay, Thánh Phaolô nói với các tín hữu Philipphê: “Xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (Philíp 2.2). Chúng ta tụ tập ở đây vì chúng ta không hiệp nhất trong trái tim và khối óc. Đại đa số những người tham gia vào tiến trình Thượng Hội đồng đều ngạc nhiên vì vui mừng. Đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên Giáo hội mời họ nói về đức tin và niềm hy vọng của mình. Nhưng một số người trong chúng ta lo sợ về cuộc hành trình này và những gì ở phía trước. Một số người hy vọng rằng Giáo hội sẽ được thay đổi đáng kể, rằng chúng ta sẽ đưa ra những quyết định cấp tiến, chẳng hạn như về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Những người khác lại sợ những thay đổi tương tự như thế và sợ rằng chúng sẽ chỉ dẫn đến sự chia rẽ, thậm chí là ly giáo. Một số người không muốn ở đây chút nào. Một giám mục nói với tôi rằng ông đã cầu nguyện để không được chọn đến đây. Lời cầu nguyện của ông đã được chấp nhận! Quý vị có thể giống như người con trong bài Tin Mừng hôm nay, lúc đầu không muốn đi vườn nho, nhưng rồi lại đi!
Vào những thời điểm quan trọng trong các Tin Mừng, chúng ta luôn nghe thấy những lời này: “Đừng sợ”. Thánh Gioan nói với chúng ta “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi”. Vì vậy, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc cầu nguyện để Chúa giải thoát tâm hồn chúng ta khỏi nỗi sợ hãi. Đối với một số người, đây là nỗi sợ thay đổi và đối với những người khác, đây là nỗi sợ rằng sẽ không có gì thay đổi. Nhưng “điều duy nhất chúng ta phải sợ chính là nỗi sợ hãi”. [1]
Tất nhiên, tất cả chúng ta đều có nỗi sợ hãi, nhưng Aquinô đã dạy chúng ta rằng lòng dũng cảm là từ chối làm nô lệ cho nỗi sợ hãi. Mong sao chúng ta luôn nhạy cảm trước những nỗi sợ hãi của những người khác, đặc biệt là những người mà chúng ta không đồng tình. Giống như Ábraham, chúng ta ra đi mà không biết mình sẽ đi đâu (Hípri 11.8). Nhưng nếu chúng ta giải phóng tâm hồn sợ hãi thì điều đó sẽ tuyệt vời ngoài sức tưởng tượng của chúng ta.
Để hướng dẫn chúng ta trong kỳ tĩnh tâm này, chúng ta sẽ suy niệm về Sự Biến Hình. Đây là nơi tĩnh tâm Chúa Giêsu dành cho các môn đệ thân cận nhất của Ngài trước khi họ bước vào Thượng Hội đồng đầu tiên trong đời sống Giáo hội, khi họ cùng nhau tiến về (syn-hodos) Giêrusalem. Cuộc rút lui này là cần thiết vì họ sợ cuộc hành trình mà họ phải thực hiện cùng nhau. Cho đến bây giờ họ vẫn lang thang khắp phía bắc Israel. Nhưng tại Sêdarê Philíp, Phêrô xưng nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Sau đó, Chúa Giêsu mời họ đi cùng Ngài lên Giêrusalem, nơi Ngài sẽ chịu đau khổ, chịu chết và sống lại từ cõi chết. Họ không thể chấp nhận điều này. Phêrô cố gắng ngăn cản Ngài. Chúa Giêsu gọi ông là “Sata’', “kẻ thù”. Cộng đoàn nhỏ bị tê liệt. Thế là Chúa Giêsu đưa họ lên núi. Chúng ta hãy lắng nghe lời kể của Thánh Máccô về những gì đã xảy ra.
“Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Ngài trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Êlia cùng ông Môsê hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu. Bấy giờ, ông Phêrô thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia." Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng. Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài." Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Chúa Giêsu với các ông mà thôi” (9: 2-8).
Cuộc tĩnh tâm này mang lại cho họ lòng can đảm và niềm hy vọng để bắt đầu cuộc hành trình của mình. Cuộc hành trình đó không phải lúc nào cũng diễn ra tốt đẹp. Họ ngay lập tức thất bại trong việc giải thoát chú bé khỏi thần dữ. Họ cãi nhau xem ai là người vĩ đại nhất. Họ hiểu lầm Chúa. Nhưng họ đang trên đường đi với một niềm hy vọng mong manh.
Vì vậy, chúng ta cũng chuẩn bị cho Thượng Hội đồng của mình bằng cách đi tĩnh tâm, ở đó, giống như các môn đệ, chúng ta học cách lắng nghe Chúa. Khi chúng ta lên đường trong ba ngày, chúng ta thường giống như những môn đệ tử, hiểu lầm nhau và thậm chí cãi nhau. Nhưng Chúa sẽ dẫn chúng ta tiến tới cái chết và sự phục sinh của Giáo hội. Chúng ta cũng hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta niềm hy vọng: niềm hy vọng rằng Thượng Hội đồng này sẽ dẫn đến một cuộc đổi mới Giáo hội chứ không phải sự chia rẽ; niềm hy vọng rằng chúng ta sẽ xích lại gần nhau hơn như anh chị em. Đây là niềm hy vọng của chúng ta không chỉ đối với Giáo hội Công giáo mà còn đối với tất cả anh chị em đã được rửa tội. Người ta nói về một “mùa đông đại kết”. Chúng ta hy vọng một mùa xuân đại kết.
Chúng ta cũng tập hợp lại với niềm hy vọng cho nhân loại. Tương lai có vẻ nghiệt ngã. Thảm họa sinh thái đe dọa sự tàn phá ngôi nhà của chúng ta. Cháy rừng và lũ lụt đã tàn phá thế giới trong mùa hè này. Những hòn đảo nhỏ bắt đầu biến mất dưới đáy biển. Hàng triệu người đang trên đường chạy trốn khỏi nghèo đói và bạo lực. Hàng trăm người đã chết đuối ở Địa Trung Hải cách đây không xa. Nhiều bậc cha mẹ từ chối đưa con cái vào một thế giới có vẻ như đã bị diệt vong. Ở Trung Quốc, giới trẻ mặc áo phông có dòng chữ “Chúng tôi là thế hệ cuối cùng”. Chúng ta hãy tập hợp lại trong niềm hy vọng cho nhân loại, đặc biệt là hy vọng cho giới trẻ.
Tôi không biết chúng ta có bao nhiêu vị làm cha mẹ tại Thượng Hội đồng, nhưng cảm ơn quý vị đã trân trọng tương lai của chúng ta. Sau khoảng thời gian khó khăn ở Nam Sudan, trên biên giới với Congo, tôi bay trở lại Anh bên cạnh một đứa trẻ liên tục la hét suốt 8 tiếng đồng hồ. Tôi xấu hổ khi thú nhận rằng tôi đã có những suy nghĩ giết người! Nhưng còn có thừa tác vụ linh mục nào kỳ diệu hơn là nuôi dạy con cái và tìm cách mở rộng tâm trí chúng để đón nhận lời hứa về sự sống. Các cha mẹ và các giáo viên là những thừa tác viên của niềm hy vọng.
Vì vậy, chúng ta tập hợp lại trong niềm hy vọng cho Giáo hội và cho nhân loại. Nhưng khó khăn là đây: Chúng ta có những hy vọng trái ngược nhau! Vậy làm sao chúng ta có thể cùng nhau hy vọng? Về điểm này chúng ta cũng giống như các môn đệ. Mẹ của Giacôbê và Gioan hy vọng rằng họ sẽ ngồi bên tả hữu Chúa trong vinh quang và như thế sẽ thay thế Phêrô; có sự ganh đua ngay cả trong vòng bạn bè thân thiết nhất của Chúa Giêsu. Có lẽ Giuđa hy vọng có một cuộc nổi loạn để đánh đuổi quân La Mã. Một số người trong số họ có lẽ chỉ hy vọng không bị giết chết. Nhưng họ bước tiếp cùng nhau. Vậy chúng ta có thể có được niềm hy vọng chung nào ?
Trong Bữa Tiệc Ly, họ đã nhận được một niềm hy vọng vượt xa tất cả những gì họ có thể tưởng tượng: Mình và Máu Chúa Kitô, giao ước mới, sự sống đời đời. Dưới ánh sáng của niềm hy vọng Thánh Thể này, tất cả những niềm hy vọng xung đột của họ dường như chẳng là gì cả, ngoại trừ Giuđa là người tuyệt vọng. Đây là điều mà Thánh Phaolô gọi là “Vẫn hy vọng mặc dầu không còn gì để hy vọng” (Rm 4,18), niềm hy vọng vượt trên mọi hy vọng của chúng ta.
Chúng ta cũng tụ họp như các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly, không phải như một phòng tranh luận chính trị để giành chiến thắng. Niềm hy vọng của chúng ta là Thánh Thể. Lần đầu tiên tôi thoáng thấy điều này có ý nghĩa gì ở Rwanda vào năm 1993, khi những rắc rối mới chỉ bắt đầu. Chúng tôi đã lên kế hoạch đi thăm các nữ tu Đa Minh ở phía bắc nhưng đại sứ Bỉ nói với chúng tôi rằng chúng tôi nên ở nhà. Đất nước đang bị cháy. Nhưng tôi còn trẻ và ngu ngốc. Bây giờ tôi đã già và ngu ngốc! Ngày hôm đó chúng tôi chứng kiến những điều khủng khiếp: Một khu bệnh viện chứa đầy trẻ nhỏ bị cụt chân tay vì bom mìn. Một em bị mất cả hai chân, một tay và một mắt. Cha em ngồi cạnh em khóc. Tôi vào bụi cây khóc, cùng với hai đứa trẻ mỗi đứa nhảy bằng một chân.
Chúng tôi đến gặp các nữ tu của mình, nhưng tôi có thể nói gì đây ? Đối mặt với bạo lực vô nghĩa như vậy, không ai có thể nói nên lời. Bấy giờ tôi nhớ lại lời Chúa: “Hãy làm việc này mà nhớ đến ta.” Chúng ta được giao việc gì đó để làm. Tại Bữa Tiệc Ly, dường như không có tương lai. Tất cả những gì ở phía trước rõ ràng là thất bại, đau khổ và cái chết. Và trong thời điểm đen tối nhất này, Chúa Giêsu đã thực hiện một cử chỉ đầy hy vọng nhất trong lịch sử thế giới: “Đây là Mình Thầy, được trao ban vì các con. Đây là máu Thầy đổ ra vì các con”. Đây chính là niềm hy vọng mời gọi chúng ta vượt lên trên mọi chia rẽ.
Một trong những anh em tu sĩ của tôi ở miền đông Ukraine đã đến dâng thánh lễ cho một số nữ tu đang chuyển nhà. Mọi thứ đã được đóng gói. Tất cả những gì họ có thể đưa ra để làm đĩa đựng bánh thánh là một chiếc đĩa nhựa màu đỏ. Vị tu sĩ ấy viết: “Đây là cách Chúa cho chúng tôi thấy rằng Ngài ở cùng chúng tôi.” Bạn đang ngồi dưới tầng hầm, ẩm ướt và mốc meo, nhưng tôi ở bên bạn - trên một chiếc đĩa đỏ dành cho trẻ em, chứ không phải trên một đĩa vàng.” Đây là niềm hy vọng Thánh Thể của cuộc hành trình công nghị này. Chúa ở cùng chúng ta.
Niềm hy vọng của Bí tích Thánh Thể là những gì nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta/ Sách Khải Huyền: “Sau đó, tôi thấy: kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: "Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (Kh 7: 9 tt). Đây là niềm hy vọng mà các môn đệ đã thoáng thấy trên núi nơi Chúa Biến Hình. Niềm hy vọng đó làm cho xung đột giữa những hy vọng của chúng ta trở nên nhỏ nhặt, gần như vô lý. Nếu chúng ta thực sự đang trên đường đến Nước Trời, việc bạn đứng về phía những người được gọi là theo chủ nghĩa truyền thống hay những người theo chủ nghĩa tiến bộ có thực sự quan trọng không? Ngay cả những khác biệt giữa các tu sĩ Đa Minh và Dòng Tên cũng trở nên không đáng kể! Vậy chúng ta hãy lắng nghe Ngài, hãy xuống núi và tiếp tục bước đi một cách tin tưởng. Những ân huệ lớn nhất sẽ đến từ những người mà chúng ta không đồng ý nếu chúng ta dám lắng nghe họ.
Trong hành trình Thượng Hội Đồng, chúng ta có thể lo lắng liệu chúng ta có đạt được điều gì không. Giới truyền thông có thể sẽ quyết định rằng tất cả chỉ là lãng phí thời gian, chỉ là lời nói. Họ sẽ tìm hiểu xem liệu những quyết định táo bạo có được đưa ra về khoảng bốn hoặc năm chủ đề nóng bỏng hay không. Nhưng các môn đệ trong Thượng hội đồng đầu tiên đi bộ đến Giêrusalem dường như không đạt được điều gì. Họ thậm chí còn cố gắng ngăn chặn việc chữa lành cho anh mù Batimê. Họ dường như vô dụng. Khi đám đông đói khát tụ tập quanh Chúa Giêsu, các môn đệ hỏi Chúa “Ở đây, trong nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no?” Chúa Giêsu hỏi họ có gì, chỉ có bảy chiếc bánh và vài con cá (Mc 8,1-10). Thế là quá đủ rồi. Nếu chúng ta quảng đại cống hiến bất cứ điều gì chúng ta có trong Thượng Hội đồng này, thế là quá đủ. Chủ mùa gặt sẽ cung cấp.
Bên cạnh tu viện của chúng tôi ở Baghdad là một ngôi nhà dành cho trẻ em bị bỏ rơi thuộc mọi tín ngưỡng, do các nữ tu của Mẹ Têrêsa điều hành. Tôi sẽ không bao giờ quên cô bé Nura, khoảng tám tuổi, sinh ra không có tay hoặc chân, đang cho những đứa trẻ nhỏ hơn ăn bằng chiếc thìa ngậm trong miệng của em. Người ta có thể tự hỏi mục đích của những hành động tốt đẹp nhỏ bé trong vùng chiến sự là gì. Những hành động đó có tạo ra sự thay đổi gì không? Không phải họ chỉ đắp thạch cao lên một cơ thể đang thối rữa sao? Chúng ta làm những việc tốt nhỏ bé và để Chủ mùa gặt ban cho những việc đó hoa trái như ý muốn. Hôm nay chúng ta tụ họp vào lễ Thánh Têrêsa thành Lisieux. Thánh nữ được sinh ra cách đây 150 năm. Chị thánh mời gọi chúng ta đi theo “con đường nhỏ” dẫn tới Nước Trời. Chị thánh nói, “Hãy nhớ rằng không có gì là nhỏ trong mắt Chúa.”
Ở Auschwitz, Primo Levi, một người Do Thái gốc Ý, được Lorenzo chia một phần bánh mì mỗi ngày. Anh ấy viết: “Tôi tin rằng thực sự là nhờ Lorenzo mà tôi mới sống được ngày hôm nay; và không phải vì sự giúp đỡ vật chất của anh ấy mà vì anh ấy đã liên tục nhắc nhở tôi bằng sự hiện diện của anh ấy, bằng cung cách tốt bụng cách tự nhiên và giản dị của anh ấy, rằng vẫn tồn tại một thế giới bên ngoài chúng ta, một điều gì đó và một ai đó vẫn trong sáng và trọn vẹn, không hư hỏng, không dã man…một điều gì đó khó định nghĩa, một khả năng tốt đẹp xa vời nhưng đáng để tiếp tục sống. Nhờ Lorenzo mà tôi đã không quên rằng bản thân tôi cũng là một con người. [2] Phần bánh mì nhỏ bé đó đã cứu rỗi linh hồn anh ấy.
Những lời cuối cùng của Thánh David, vị thánh bảo trợ của xứ Wales, là: “Hãy làm tốt những việc đơn giản”. Chúng ta hy vọng rằng bất cứ hành động nhỏ nào chúng ta thực hiện trong Thượng Hội đồng này sẽ mang lại kết quả ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Vào đêm cuối cùng đó, Chúa Giêsu đã hiến thân cho các môn đệ: “Thầy hiến thân cho các con”. Trong Thượng Hội đồng này, chúng ta không chỉ chia sẻ lời nói và niềm xác tín của mình mà còn chia sẻ chính mình với lòng quảng đại Thánh Thể. Nếu chúng ta mở lòng với nhau, những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Các môn đệ thu thập tất cả những mảnh bánh và cá còn sót lại sau khi cho năm ngàn người ăn. Không có gì bị mất.
Một điểm cuối cùng. Phêrô cố gắng ngăn cản Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, vì điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với ông. Thật vô lý khi đến đó để bị giết. Tuyệt vọng không phải là bi quan. Đó là nỗi kinh hoàng khi không còn gì có ý nghĩa nữa. Và hy vọng không phải là sự lạc quan mà là niềm tin rằng tất cả những gì chúng ta đang sống, tất cả những bối rối và nỗi đau của chúng ta, bằng cách nào đó sẽ được coi là có ý nghĩa. Chúng ta tin tưởng vào điều đó, như Thánh Phaolô nói: “Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi” (1 Côrintô 13:12).
Bạo lực vô nghĩa phá hủy mọi ý nghĩa và giết chết linh hồn chúng ta. Khi Thánh Oscar Romero, Tổng Giám mục San Salvador đến thăm hiện trường vụ thảm sát của quân đội Salvador, ông đã nhìn thấy xác một cậu bé nằm trong một con mương: “Cậu ấy chỉ là một đứa trẻ, ở dưới đáy mương, khuôn mặt hướng lên. Bạn có thể nhìn thấy những lỗ đạn, những vết bầm tím do những cú đánh để lại, máu khô. Đôi mắt cậu mở to, như thể hỏi nguyên nhân cái chết của anh ta và không hiểu [3] ”. Tuy nhiên, chính vào lúc này, cậu đã khám phá ra ý nghĩa cuộc đời mình và lời mời gọi từ bỏ cuộc đời đó. Vâng, cậu ấy đã sợ hãi đến cùng. Xác chết của cậu ướt đẫm mồ hôi khi cậu nhìn người đàn ông sắp giết mình. Nhưng cậu không còn là nô lệ của sự sợ hãi nữa.
Tôi hy vọng rằng tại Thượng Hội đồng này sẽ không có bạo lực! Nhưng thường thì có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi mục đích của tất cả những điều này là gì, nhưng nếu chúng ta lắng nghe Ngài và lắng nghe lẫn nhau, chúng ta sẽ hiểu được con đường phía trước. Đây là chứng tá Kitô giáo của chúng ta trong một thế giới thường mất niềm tin rằng sự tồn tại của con người có ý nghĩa gì đó. Macbeth của Shakespeare khẳng định rằng cuộc đời chỉ là một câu chuyện, “được kể bởi một kẻ ngốc, đầy âm thanh và giận dữ, chẳng có ý nghĩa gì.” [4] Nhưng qua việc cùng nhau suy nghĩ và cầu nguyện về những vấn đề lớn lao mà Giáo hội và thế giới phải đối mặt, chúng ta làm chứng cho niềm hy vọng của chúng ta nơi Chúa, Đấng mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của mỗi con người.
Mỗi trường học Kitô giáo là một bằng chứng cho niềm hy vọng của chúng ta vào “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5). Tại Baghdad, các tu sĩ Đa Minh đã thành lập một học viện với khẩu hiệu: “Ở đây không cấm đặt câu hỏi.” Giữa vùng chiến sự, một ngôi trường là minh chứng cho niềm hy vọng của chúng ta rằng bạo lực vô nghĩa sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Homs ở Syria là một thành phố bị phá hủy phần lớn bởi bạo lực vô nghĩa. Nhưng ở đó, giữa đống đổ nát, chúng tôi phát hiện ra một trường học Công giáo. Tại đây, tu sĩ Dòng Tên người Hà Lan, Franz van der Lugt, đã từ chối rời đi bất chấp những lời đe dọa giết chết. Vị tu sĩ bị bắn khi đang ngồi trong vườn. Nhưng chúng tôi tìm thấy một tu sĩ Dòng Tên già người Ai Cập vẫn đang giảng dạy. Ông đang huấn luyện một thế hệ trẻ em khác tiếp tục cố gắng tìm hiểu cuộc sống của chúng. Đó là những gì hy vọng biểu lộ ra bên ngoài.
Vì vậy, thưa anh chị em, chúng ta có thể bị chia rẽ bởi những hy vọng khác nhau. Nhưng nếu chúng ta lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau, tìm hiểu ý muốn của Ngài đối với Giáo hội và thế giới, chúng ta sẽ hiệp nhất trong một niềm hy vọng vượt lên trên những bất đồng của chúng ta, và được chạm đến bởi người mà Thánh Augustinô gọi đó là “vẻ đẹp quá cổ xưa và mới mẻ…Con đã nếm được Chúa và bây giờ đói khát Chúa; Chúa đã chạm vào con, và con tiêu hao mong chờ sự bình an của Chúa.” [5] Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem coi chúng ta có thể bị chia rẽ một cách nào khác, theo cách chúng ta hiểu Giáo hội là kiểu gia đình nào.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ từ https://www.vaticannews.va
---------------------------------------------------
Suy niệm tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Tình bạn”
Sáng thứ Hai, Cha Timothy Radcliffe, dòng Đa Minh và cựu Bề trên Dòng Giảng Thuyết, đã suy tư về ý nghĩa của “Tình bạn” với những người sẽ tham gia Đại hội đồng Thượng Hội đồng Giám mục sẽ bắt đầu vào Thứ Tư, ngày 4 tháng 10.
Vào đêm trước khi chết, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Cha ngài: “Xin cho họ nên một như chúng ta” (Ga 17,21). Nhưng ngay từ đầu, trong hầu hết các văn kiện Tân Ước, chúng ta thấy các môn đệ chia rẽ, cãi vã, rút phép thông công lẫn nhau. Chúng ta tập họp tại Thượng Hội đồng này vì chúng ta cũng bị chia rẽ và chúng ta hy vọng cũng như cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa trái tim và tâm trí. Đây phải là chứng từ quý giá của chúng ta trong một thế giới bị chia cắt bởi xung đột và bất bình đẳng. Nhiệm Thể Chúa Kitô phải thể hiện sự bình an mà Chúa Giêsu đã hứa và thế giới khao khát.
Hôm qua tôi đã xem xét hai nguồn gốc của sự chia rẽ: những niềm hy vọng xung đột của chúng ta và những tầm nhìn khác nhau về Giáo hội vốn là tổ ấm. Nhưng những căng thẳng này không nhất thiết phải chia cắt chúng ta; Chúng ta là những người mang một niềm hy vọng vượt quá hy vọng, và là ngôi nhà rộng rãi của Vương quốc mà trong đó Chúa nói với chúng ta rằng có “nhiều chỗ ở” (Ga 14:1).
Tất nhiên không phải mọi hy vọng hay ý kiến đều chính đáng. Nhưng chính thống thì rộng rãi còn tà giáo thì hẹp hòi. Chúa dẫn đàn chiên của Ngài ra khỏi chuồng chiên nhỏ bé để đến những đồng cỏ rộng mở của đức tin chúng ta. Vào Lễ Phục Sinh, Ngài sẽ dẫn họ ra khỏi căn phòng nhỏ bé bị khóa để vào trong sự bao la vô biên của Thiên Chúa, “Thiên Chúa sung mãn” [1] .
Vậy chúng ta hãy cùng nhau lắng nghe Ngài. Nhưng bằng cách nào? Một giám mục người Đức lo ngại về “giọng điệu gay gắt” trong các cuộc thảo luận thượng hội đồng của họ. Ngài ấy nói rằng các cuộc thảo luận “giống như một cuộc trao đổi bằng lời nói khoa trương” hơn là một cuộc tranh luận có trật tự.” [2] Tất nhiên, những cuộc tranh luận hợp lý có trật tự là cần thiết. Là một tu sĩ Đa Minh, tôi không bao giờ có thể phủ nhận tầm quan trọng của lý trí! Nhưng cần nhiều hơn nữa nếu chúng ta muốn vượt qua sự khác biệt của mình. Chiên thì tin cậy vào tiếng Chúa vì đó là tiếng của bạn bè. Thượng Hội đồng này sẽ có kết quả nếu nó đưa chúng ta đến một tình bạn sâu sắc hơn với Chúa và với nhau.
Vào đêm trước khi chết, Chúa Giêsu nói với các môn đệ sắp phản bội, chối bỏ và bỏ rơi Ngài rằng: “Ta gọi các con là bạn hữu” (Ga 15,15). Chúng ta được đón nhận bởi tình bạn chữa lành của Thiên Chúa, tình bạn mở ra những cánh cửa ngục tù mà chúng ta tạo ra cho chính mình. “Thiên Chúa vô hình nói chuyện với con người như những người bạn” (Vatican II, Dei Verbum, 2). Ngài đã mở đường vào tình bạn vĩnh cửu của Chúa Ba Ngôi. Tình bạn này được dành cho các môn đệ của Ngài, cho những người thu thuế và gái mại dâm, cho các luật sĩ và người nước ngoài. Đó là hương vị đầu tiên của Nước trời.
Cả Cựu Ước lẫn Hy Lạp và La Mã kinh điển đều coi tình bạn như vậy là không thể. Tình bạn chỉ ở giữa những điều tốt đẹp. Tình bạn với kẻ ác được coi là không thể. Như Thánh vịnh 26 nói: “Con hằng gớm ghét bè lũ vô lương, không ngồi chung với phường gian ác” (câu 5). Kẻ xấu không có bạn bè vì họ chỉ cộng tác để làm những việc ác. Nhưng Thiên Chúa của chúng ta luôn có khuynh hướng tạo ra những tình bạn gây sốc. Ngài yêu Giacóp, kẻ lừa gạt; và Đavít, kẻ sát nhân và ngoại tình; và Salômôn kẻ thờ ngẫu tượng.
Ngoài ra, tình bạn chỉ có thể có giữa những người bình đẳng. Nhưng ân sủng nâng chúng ta lên trong tình bạn thiêng liêng. Aquinô nói solus Deus deificat, “chỉ có Chúa mới có thể khiến chúng ta trở nên giống thần thánh” [i] Hôm nay là Lễ Các Thiên Thần Bản Mệnh, là dấu chỉ của tình bạn độc đáo mà Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta. Đức Thánh Cha nói trong Lễ Các Thiên Thần Bản Mệnh: “Không ai thực hiện một cuộc hành trình một mình và không ai nên nghĩ rằng mình cô đơn” [3]. Khi chúng ta thực hiện cuộc hành trình, mỗi chúng ta đều được ôm ấp bởi tình bạn thần thiêng.
Việc rao giảng Tin mừng không bao giờ chỉ là truyền đạt thông tin. Đó là một hành động của tình bạn. Một trăm năm trước, Vincent McNabb OP đã nói: “Hãy yêu thương những người bạn rao giảng. Nếu không thì đừng rao giảng. Hãy rai giảng cho chính mình.” Thánh Đa Minh được cho là được mọi người yêu mến vì ngài yêu thương tất cả mọi người. Thánh Catarina Siena được vây quanh bởi một nhóm bạn bè: nam nữ, giáo dân và tu sĩ. Họ được gọi là Caterinati, những người của Catarina. Thánh Martin de Porres thường xuất hiện với cảnh một con mèo, một con chó và một con chuột đang ăn cùng một món ăn. Một hình ảnh đẹp về đời sống tôn giáo!
Không có tình bạn dễ dàng nào giữa nam và nữ trong Cựu Ước. Nước trời đến cùng với Chúa Giêsu được bao quanh bởi bạn bè, đàn ông và phụ nữ. Thậm chí ngày nay, nhiều người vẫn nghi ngờ khả năng có một tình bạn vô tội giữa nam và nữ. Đàn ông sợ bị buộc tội; phụ nữ sợ bị đàn ông bạo hành; giới trẻ sợ bị lạm dụng. Chúng ta nên thể hiện tình bạn rộng rãi của Thiên Chúa.
Vì vậy, chúng ta rao giảng Tin mừng bằng tình bạn vượt qua ranh giới. Thiên Chúa đã vượt qua sự phân chia giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo. Chúng ta có thể tạo ra những tình bạn không thể nào? Khi Chân phước Pierre Claverie được tấn phong làm giám mục Oran ở Algeria vào năm 1981, ngài đã nói với những người bạn Hồi giáo của mình rằng: “Tôi cũng mắc nợ các bạn những gì tôi có ngày hôm nay. Khi học tiếng Ả Rập với các bạn, trên hết tôi đã học được cách nói và hiểu ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ của tình bằng hữu huynh đệ, nơi các chủng tộc và tôn giáo giao tiếp với nhau... Vì tôi tin rằng tình bạn này đến từ Thiên Chúa và dẫn đến Thiên Chúa” [4] Xin lưu ý, tình bạn đã tạo nên con người của ngài!
Chính vì tình bạn này mà ngài đã bị bọn khủng bố sát hại cùng với một người bạn Hồi giáo trẻ tuổi, Mohamed Bouckichi. Sau khi được phong chân phước, một vở kịch về tình bạn của họ đã được trình diễn, Pierre et Mohamed. Mẹ của Mohamed đã xem vở kịch về cái chết của con trai bà và hôn diễn viên đóng vai anh ấy.
Tin vui mà giới trẻ đang chờ đợi được nghe từ chúng ta là Thiên Chúa đến với họ trong tình bạn. Đây là tình bạn mà họ mong muốn và họ tìm kiếm trên Instagram và TikTok. Khi còn là thiếu niên, tôi kết bạn với các linh mục Công giáo. Với họ, tôi khám phá ra niềm vui đức tin. Than ôi, cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục đã khiến những tình bạn như vậy bị nghi ngờ. Hơn cả tội lỗi tình dục, đó là tội chống lại tình bạn. Vòng xoáy sâu nhất trong Inferno của Dante được dành riêng cho những kẻ phản bội tình bạn.
Vì vậy, nền tảng của tất cả những gì chúng ta sẽ làm trong Thượng Hội đồng này phải là tình bạn mà chúng ta tạo ra. Có vẻ không có gì nhiều. Việc đó sẽ không gây chú ý trên các phương tiện truyền thông. “Họ đến tận Roma để kết bạn! Thật là lãng phí!” Nhưng chính nhờ tình bạn mà chúng ta sẽ thực hiện quá trình chuyển tiếp từ “tôi” sang “Chúng ta” (IL A. 1. 25). Không có việc đó, chúng ta sẽ không đạt được gì cả. Khi Tổng Giám mục Anh giáo của Canterbury, Robert Runcie, gặp Thánh Gioan Phaolô II, ông đã thất vọng vì dường như không đạt được tiến bộ nào hướng tới sự hiệp nhất. Nhưng Đức Thánh Cha bảo ông hãy tin tưởng. “Đoàn thể tính xúc cảm đi trước đoàn thể tính hiệu quả.”
Instrumentum Laboris (ND: tài liệu làm việc) đề cập đến sự cô đơn của nhiều linh mục và “nhu cầu của họ được chăm sóc, có tình bạn và được hỗ trợ” (B. 2.4., b). Trọng tâm của ơn gọi linh mục là nghệ thuật của tình bạn. Đây là tình bạn vĩnh cửu, bình đẳng của Thiên Chúa Ba Ngôi chúng ta. Khi đó mọi chất độc của chủ nghĩa giáo sĩ trị sẽ tan biến. Ơn gọi làm cha mẹ cũng có thể cô đơn và cần có tình bạn bền vững.
Tình bạn là một nhiệm vụ sáng tạo. Trong tiếng Anh chúng ta nói rằng chúng ta fall in love - phải lòng nhau nhưng chúng ta make friends - kết bạn với nhau. Chúa Giêsu hỏi người luật sĩ sau dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu: “Trong ba người này, ai trở thành lân cận của người bị rơi vào tay bọn cướp?” (Lc 10,36). Ngài bảo các môn đệ rằng họ phải kết bạn bằng cách dùng tiền bạc bất chính (Lc 16:9). Trong Thượng Hội đồng, chúng ta có nhiệm vụ sáng tạo là tạo ra những tình bạn không thể có được, đặc biệt với những người mà chúng ta không đồng tình. Nếu bạn nghĩ rằng tôi đang nói những điều vô nghĩa, hãy đến và làm bạn với tôi!
Điều này nghe có vẻ dễ sợ! Hãy tưởng tượng tôi xông vào bạn với quyết tâm sắt đá làm cho bạn trở thành một người bạn. Bạn sẽ muốn chạy trốn! Nhưng nền tảng của tình bạn chỉ là ở bên nhau. Đó là niềm vui khi có sự hiện diện của người khác. Chúa Giêsu mời gọi những người ở vòng trong, Phêrô, Giacôbê và Gioan, lên núi với Ngài, cũng như họ sẽ ở với Ngài trong vườn Ghếtsêmani. Sau khi Chúa về trời, họ tìm kiếm một người khác để thay thế Giuđa, một người đã ở với Chúa và với họ. Phêrô nói rằng ông phải là “một trong những người đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Ngài sống giữa chúng ta, kể từ khi Ngài được ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Ngài lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời” (Công vụ 1.21) Thiên đàng sẽ chỉ là ở cùng Chúa. Bốn lần trong Thánh Lễ, chúng ta nghe những lời này: “Chúa ở cùng anh chị em”. Đó chính là tình bạn thiêng liêng. Sơ Wendy Becket mô tả việc cầu nguyện là “không được bảo vệ trước sự hiện diện của Chúa”. Không có gì cần phải nói.
Trong cuốn sách về tình bạn thiêng liêng, Thánh Aelred thành Rivaulx, Tu viện trưởng Xitô thế kỷ 12, đã viết “Chúng ta ở đây, bạn và tôi, và tôi hy vọng rằng Chúa Kitô trở thành người thứ ba với chúng ta. Bây giờ không ai có thể làm phiền chúng ta... Vì vậy, hãy đến đây, bạn thân mến, hãy bộc lộ cõi lòng và nói lên suy nghĩ của mình.” Chúng ta có dám nói lên suy nghĩ của mình không?
Tất nhiên, trong Tổng Tu nghị Đa Minh, chúng tôi tranh luận và đưa ra quyết định. Nhưng chúng tôi cũng cầu nguyện và ăn uống cùng nhau, đi dạo, uống nước và giải trí. Chúng ta trao cho nhau món quà quý giá nhất, đó là thời gian. Chúng ta xây dựng một cuộc sống chung. Rồi những tình bạn không thể có được nảy sinh. Lý tưởng nhất là chúng ta nên làm điều đó trong ba tuần của Thượng Hội đồng thay vì đi theo con đường riêng vào cuối ngày. Chúng ta hãy hy vọng rằng điều này sẽ có thể thực hiện được tại phiên họp tiếp theo của Thượng Hội đồng này.
Tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa cho chúng ta không gian. Herbert McCabe OP đã viết: “Quyền năng của Thiên Chúa chủ yếu là quyền năng cứ để cho mọi thứ diễn ra. “Hãy có ánh sáng” – quyền năng sáng tạo chỉ là quyền năng khi nó không có khả năng can thiệp vào các thụ tạo, bởi vì nó khiến mọi vật là chính chúng, mọi người là chính họ. Rõ ràng việc sáng tạo không tạo ra sự thay đổi nào đối với các sự vật, việc sáng tạo để cho các sự vật là chính chúng. Sự sáng tạo đơn giản là chỉ để mọi thứ diễn ra tự nhiên, và tình yêu của chúng ta là một hình ảnh mờ nhạt về điều đó. [5] '
Thường không cần lời nói. Một thiếu nữ người Algeria tên là Yasmina đã để lại một tấm thiệp gần nơi tử đạo của Pierre Claverie. Cô ấy viết trên đó, “Tối nay, thưa Cha, con không có lời nào để nói. Nhưng con có nước mắt và hy vọng” [6]
Nếu chúng ta ở bên nhau như thế này, chúng ta sẽ gặp nhau như thể mới gặp nhau lần đầu! Khi Chúa Giêsu dùng bữa với người Pharisêu Simon, thì một phụ nữ, có thể là gái điếm địa phương, bước vào và khóc, rửa chân cho Ngài bằng nước mắt. Simon bị sốc. Chúa Giêsu không thấy cô ấy là ai sao? Nhưng Chúa Giêsu trả lời: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau” (Lc 7: 44).
Israel đã khao khát được nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa. Trong nhiều thế kỷ họ đã hát: “xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con để chúng con được ơn cứu độ” (Tv 80). Nhưng không thể nhìn thấy Chúa mà còn sống. Israel khao khát điều không thể chịu nổi, đó là được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa. Nơi Chúa Giêsu, khuôn mặt này đã được mạc khải. Những người chăn chiên có thể nhìn Ngài như một em bé đang ngủ trong máng cỏ mà họ vẫn còn sống. Khuôn mặt của Chúa trở nên rõ ràng, nhưng chính Chúa đã chết, đôi mắt nhắm nghiền trên cây thánh giá.
Trong Kinh nguyện Thánh Thể thứ hai, chúng ta cầu nguyện cho người đã chết được đón nhận trong ánh sáng tôn nhan Thiên Chúa. Sự Nhập Thể là sự hiển hiện của Thiên Chúa. Một nhà thần học cổ xưa, có thể là Thánh Augustinô, tưởng tượng ra cuộc đối thoại với Tên Trộm Lành, người đã chết cùng với Chúa Giêsu. Ông ta nói: “Tôi không nghiên cứu đặc biệt về Kinh thánh. Tôi là một tên cướp toàn thời gian. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó trong nỗi đau đớn và cô đơn của mình, tôi thấy Chúa Giêsu đang nhìn tôi và qua cái nhìn của Ngài, tôi hiểu ra mọi điều” [7]
Trong những thời điểm giữa lần đến thứ nhất và lần đến thứ hai của Chúa Kitô, chúng ta phải là gương mặt đó cho nhau. Chúng ta nhìn thấy những người không thể thấy được và mỉm cười với những người cảm thấy xấu hổ. Một tu sĩ Đa Minh người Mỹ, Brian Pierce, đã đến thăm cuộc triển lãm ảnh của trẻ em đường phố ở Lima, Peru. Dưới bức ảnh của một đứa trẻ có chú thích, “Saben que existo pero no me ven. Họ biết tôi tồn tại nhưng họ không nhìn thấy tôi. Họ biết rằng tôi tồn tại như một vấn đề, một mối phiền toái, một thống kê, nhưng họ không nhìn thấy tôi!
Ở Nam Phi, lời chào phổ biến là “SAWABONA”, “Tôi thấy bạn”. Hàng triệu người cảm thấy mình là vô hình. Không ai nhìn họ với sự công nhận. Thường thì người ta bị cám dỗ thực hiện hành vi bạo lực chỉ để ít nhất người khác nhìn thấy họ! Nhìn này, tôi ở đây! Cảm giác bị coi là kẻ thù còn tốt hơn là không được ai nhìn thấy.
Thomas Merton đi tu vì muốn thoát khỏi sự gian ác của thế gian. Nhưng vài năm sống ở Xitô đã mở mắt ngài trước vẻ đẹp và sự tốt lành của con người. Một ngày nọ, trên đường phố, vảy rơi khỏi mắt ngài. Ngài viết trong nhật ký của mình: “Rồi như thể tôi chợt nhìn thấy vẻ đẹp thầm kín của trái tim họ, chiều sâu của trái tim họ, nơi mà tội lỗi, ham muốn hay sự hiểu biết về bản thân đều không thể chạm tới, cốt lõi của con người họ, con người mà mỗi người đều không thể chạm tới. một con người ở trong mắt Chúa. Giá như họ có thể nhìn thấy con người thật của mình. Giá như chúng ta có thể gặp nhau như vậy mọi lúc. Sẽ không còn chiến tranh, không còn hận thù, không còn tham lam.” [8]
Thế giới của chúng ta khao khát tình bạn, nhưng nó bị phá hoại bởi những xu hướng phá hoại: Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy, trong đó mọi người gắn kết với nhau bằng những câu chuyện đơn giản, những khẩu hiệu dễ dãi, sự mù quáng của đám đông. Và có một chủ nghĩa cá nhân gay gắt, có nghĩa là tất cả những gì tôi có là câu chuyện của tôi. Terry Eagleton đã viết “Những cuộc hành trình không còn mang tính cộng đồng nữa mà tự mình may đo cho phù hợp với kích cỡ của mình, giống như đi nhờ xe hơn là một chuyến tham quan chung một xe. Những cuộc hành trình đó không còn là những sản phẩm hàng loạt nữa mà phần lớn được thực hiện một mình. Thế giới đã không còn được đẽo gọt theo một cốt truyện chung nữa, điều đó có nghĩa là bạn có thể tự tạo nên cuộc sống của mình theo cách bạn muốn.” [9] Nhưng “câu chuyện của tôi” là câu chuyện của chúng ta, câu chuyện Tin mừng có thể được kể theo những cách tuyệt vời khác nhau.
Một điểm ngắn gọn cuối cùng. CS Lewis nói rằng những người yêu nhau nhìn nhau nhưng bạn bè nhìn về cùng một hướng. Họ có thể không đồng ý với nhau, nhưng ít nhất họ chia sẻ cùng một số vấn đề. Tôi trích dẫn: “Bạn có quan tâm đến sự thật tương tự không? Người nào đồng ý với chúng ta rằng một vấn đề nào đó, vốn dĩ ít được người khác coi trọng, lại có tầm quan trọng lớn lao, thì người ấy có thể là Bạn của chúng ta. Người ấy không cần phải đồng ý với chúng ta về câu trả lời.” [10]
Điều dũng cảm nhất mà chúng ta có thể làm trong Thượng Hội đồng này là thành thật về những nghi ngờ và thắc mắc của chúng ta với nhau, những vấn đề mà chúng ta không có câu trả lời rõ ràng. Khi đó chúng ta sẽ trở nên gần gũi với tư cách là những người cùng tìm kiếm, những người ăn xin sự thật. Trong tác phẩm Don Quixote của Graham Greene, một linh mục Công giáo người Tây Ban Nha và một Thị trưởng Cộng sản cùng nhau đi nghỉ. Một ngày nọ họ dám chia sẻ những nghi ngờ của mình. Vị linh mục nói, “thật kỳ lạ khi việc chia sẻ cảm giác nghi ngờ lại có thể gắn kết con người lại với nhau, có lẽ còn hơn cả việc chia sẻ một đức tin. Người có đức tin sẽ đấu tranh với một người có đức tin khác vì sự khác biệt; người hoài nghi chỉ chiến đấu với chính mình.” [11]
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói trong cuộc đối thoại với Rabbi Skorka: “Các nhà lãnh đạo vĩ đại của Dân Chúa là những người luôn để lại chỗ cho sự nghi ngờ…Ai muốn trở thành người lãnh đạo của Dân Chúa phải dành cho Chúa không gian của mình; do đó, thu mình lại, rút lui vào chính mình với sự nghi ngờ, những trải nghiệm nội tâm về bóng tối, về việc không biết phải làm gì; tất cả những điều đó cuối cùng đều mang tính chất rất thanh lọc. Người lãnh đạo tồi là người tự tin và bướng bỉnh. Một trong những đặc điểm của một nhà lãnh đạo tồi là có tính chuẩn mực quá mức vì sự tự tin của mình.” [12] (Trên trời và dưới đất, 52)
Nếu không có sự quan tâm chung về sự thật thì có cơ sở gì cho tình bạn? Tình bạn khó khăn trong xã hội chúng ta một phần vì xã hội hoặc đã mất niềm tin vào sự thật, hoặc bám vào những sự thật chính thống hạn hẹp không thể bàn cãi. Solzhenitsyn đã nói” 'một lời nói thật có giá trị hơn cả thế giới.” [13] Một người anh em của tôi đang đi trên xe buýt tình cờ nghe thấy hai người phụ nữ ngồi ở ghế phía trước anh ta. Một người phàn nàn về những đau khổ mà bà phải chịu đựng. Người kia nói: “Này bạn thân mến, bạn phải minh triết về điều đó chứ.” “Minh triết là gì?” “Nó có nghĩa là bạn đừng nghĩ về những đau khổ đó.”
Tình bạn nảy nở khi chúng ta dám chia sẻ những nghi ngờ và cùng nhau tìm kiếm sự thật. Nói chuyện với những người đã biết mọi thứ hoặc những người hoàn toàn đồng ý thì có ích gì? Nhưng làm thế nào chúng ta có thể làm được điều đó? Đó là chủ đề của buổi hội thảo tiếp theo.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ (www.vaticannews.va)
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.