BỐN THÁI ĐỘ CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI DI DÂN
Người Công giáo nghĩ gì về nhập cư thì phức tạp — nhưng chúng ta nghĩ gì về người di dân thì rất rõ ràng
Tổ tiên Công giáo của chúng ta từng phải đấu tranh quyết liệt với các phong trào bài nhập cư, như tổ chức Ku Klux Klan (KKK), để giành chỗ đứng của mình tại Hoa Kỳ. Thông điệp của các giám mục Hoa Kỳ về vấn đề nhập cư cho thấy chúng ta sẵn sàng tiếp tục con đường ấy. Đồng thời, các ngài cũng nhìn nhận tính phức tạp của vấn đề khi khẳng định rằng “các quốc gia có trách nhiệm quản lý biên giới của mình và thiết lập một hệ thống nhập cư công bằng và có trật tự”, và cam kết “vận động cho một cuộc cải tổ nhập cư thực chất.”
Hệ thống nhập cư của Hoa Kỳ rõ ràng đang bị đổ vỡ. Thái độ của chúng ta đối với hệ thống ấy phải là cơn phẫn nộ chính đáng của người cải cách. Nhưng thái độ của chúng ta đối với người di dân lại là một chuyện khác.
Dưới đây là bốn thái độ mà người Công giáo cần có đối với họ.
Thứ nhất: Thái độ quảng đại
Trước hết, chúng ta cần có “thái độ quảng đại”, như Đức cha Robert Barron đã nói.
Thật vậy, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng các quốc gia phồn thịnh có bổn phận đón nhận những người di dân đang tìm kiếm sự an toàn hoặc sinh kế, trong mức độ có thể — và chúng ta đang sống trong một trong những quốc gia phồn thịnh nhất thế giới (x. SGLHTCG 2241).
Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nói vào tháng Mười Một rằng: “Chưa ai nói rằng Hoa Kỳ phải mở cửa biên giới hoàn toàn.”
Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh rằng chúng ta phải chống lại “sự thiếu tôn trọng trầm trọng” đang nhắm vào những người di dân “đang sống lương thiện, nhiều người trong số họ đã sống như thế suốt 10, 15, thậm chí 20 năm.”
Một hệ quả nghiêm trọng của các chiến dịch trục xuất hàng loạt, dù là hiện nay hay dưới các chính quyền trước đây, chính là tác động của chúng lên trái tim chúng ta. Đức Kitô uốn nắn trái tim chúng ta qua Mt 25 và dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu. Nhưng khi chúng ta lùng bắt con người để trục xuất họ, chúng ta bắt đầu nhìn những người khác như những vấn đề cần loại bỏ, thay vì những người anh chị em cần được chăm sóc.
Rõ ràng, nguyên nhân của tình trạng này bắt đầu từ những chính sách biên giới thiếu trách nhiệm — nhưng cũng rõ ràng không kém, giải pháp phải bắt đầu từ các Kitô hữu.
Thứ hai: Thái độ biết ơn, vì chúng ta không sinh đủ con cái
Tỷ lệ sinh tại Hoa Kỳ đang ở mức thấp kỷ lục. Số trẻ sinh ra trên mỗi phụ nữ giảm mạnh sau cuộc suy thoái năm 2008 và chưa bao giờ phục hồi. Để duy trì dân số ổn định, cần 2,1 con/phụ nữ, trong khi hiện nay con số này chưa tới 1,6. Điều đó đưa chúng ta vào danh sách những quốc gia có dân số đang suy giảm, và các hệ quả kinh tế đã bắt đầu lộ rõ.
Chúng ta có hai lựa chọn để ổn định dân số.
Lựa chọn thứ nhất là sinh nhiều con hơn. Nhưng như Tim Carney nhận định, các yếu tố văn hóa khiến điều này khó xảy ra.
Lựa chọn thứ hai là nhập cư.
Trong cuộc khủng hoảng người tị nạn Syria, Đức Phanxicô đã từng nói:
“Khi có một khoảng trống, con người sẽ tìm cách lấp đầy. Nếu một quốc gia không có trẻ em, người di dân sẽ đến và lấp vào chỗ trống ấy. Tôi nghĩ đến tỷ lệ sinh ở Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha — gần như bằng không. Khi không có trẻ em, sẽ có những khoảng trống.”
Thứ ba: Thái độ kính sợ Thiên Chúa trong cách đối xử với người di dân
Như đã từng được nhấn mạnh, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cảnh báo về “bốn tội kêu thấu trời”, trong đó có “tiếng kêu của người ngoại kiều, của bà góa và của trẻ mồ côi” (x. SGLHTCG 1867).
Những tội này xuất hiện trong những đoạn u tối nhất của Cựu Ước: dấu ấn Ca-in, sự hủy diệt của Xơ-đôm, và các hình phạt dành cho những kẻ vi phạm Mười Điều Răn. Trong Tân Ước, thánh Giacôbê sử dụng tước hiệu Cựu Ước “Chúa các đạo binh” để cảnh báo:
“Này đây, tiền công thợ gặt ruộng cho anh em mà anh em đã gian lận, đang kêu lên; và tiếng kêu của những người gặt đã thấu đến tai Chúa các đạo binh.” (Gc 5,4)
Thiên Chúa nhân hậu và giàu lòng xót thương, nhưng ngược đãi người di dân là một trong những tội chuốc lấy cơn thịnh nộ của Người.
Thứ tư: Thái độ truyền giáo đối với người di dân
Ngay từ thuở đầu, một trong những nỗi lo của người Mỹ đối với người di dân là họ không hội nhập — không đón nhận “văn hóa của chúng ta”, dù khái niệm ấy mỗi người hiểu một khác. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy nỗi lo này không có cơ sở. Những người châu Âu đầu tiên định cư đã đặt nền văn hóa vững chắc đến mức các khuynh hướng chính trị vẫn có thể được dự đoán qua nhiều thế hệ.
Thực tế, vấn đề không phải là người di dân hội nhập quá chậm, mà là họ hội nhập quá nhanh vào nền văn hóa tiêu thụ, như câu chuyện cha Mike Schmitz kể về một nhân chứng đức tin người Trung Hoa đã sa sút đời sống đạo.
Một điều Hội Thánh Công giáo luôn làm cho người di dân là giúp họ hội nhập theo cách tốt đẹp. Một nghiên cứu về người Ý di cư cho thấy sự hiện diện của Hội Thánh làm chậm lại những hình thức hội nhập tiêu cực, nhưng lại đẩy nhanh việc học nói và đọc tiếng Anh, cùng với sự ổn định xã hội.
Người Công giáo cần nhìn người di dân như “người của chúng ta”, và các giáo xứ cần trải thảm chào đón họ.
Tom Hoopes - Aleteia.org
con sóng nhỏ chuyển ngữ
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.