GIÁO HỘI ĐAU KHỔ

03-11-2018 3,922 lượt xem

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để chúng ta nỗ lực chân thành cầu cho các linh hồn nơi Luyện Hình, dịp tốt để thể hiện đức ái Kitô giáo, thể hiện lòng thương xót với người khác và thể hiện tính liên kết của tinh thần “các thánh cùng thông công”.

Tháng Cầu Hồn tím rịm nỗi nhớ thương, khói nhang trầm buồn, nhưng những ánh nến vẫn lung linh niềm hy vọng, tất cả nỗi buồn thương chợt hóa thành niềm hạnh phúc vô thường. Hằng năm, những ngày này có biết bao linh hồn được giải thoát – trong đó có những người thân của mỗi chúng ta nữa. Rồi các ngài bay thẳng về Thiên Quốc hợp đoàn cùng các thánh, cùng được diện kiến Tôn Nhan Thiên Chúa và đời đời chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Khi cầu nguyện, người ta thường cầu cho các linh hồn mồ côi. Thiết nghĩ chẳng có linh hồn nào mồ côi. Có lẽ chữ mồ côi chúng ta hiểu theo phần đời, vì có những người mồ côi theo nghĩa nào đó, có thể họ bị hất hủi, bị bỏ rơi, cô thân, đơn độc. Nhưng về tâm linh, không linh hồn nào mồ côi – kể cả các linh hồn thai nhi. Tại sao? Hằng ngày, trong mọi giờ kinh, đặc biệt là các Thánh Lễ, Giáo hội luôn cầu cho tất cả các linh hồn – thậm chí cầu cho cả người còn sống. Tính liên đới của Giáo hội thật tuyệt vời!

Còn nữa, mỗi khi lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta luôn cầu xin nhiều lần: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn”. Cuối giờ kinh, chúng ta cũng thường đọc Kinh Vực Sâu để cầu cho các linh hồn, tức là không phân biệt linh hồn thân quen hay xa lạ, bất kỳ dân tộc nào. Tại các cộng đoàn tu trì, các giờ Kinh Nhật Tụng (Thần Tụng, Thần Vụ) đều cầu cho các linh hồn. Vâng, không hề có linh hồn mồ côi như chúng ta tưởng.

Có sinh thì có tử. Vì phạm tội mà con người phải chết. Quy luật muôn thuở. Chết là nỗi buồn kinh khủng của con người, là thất bại lớn nhất của con người. Nhưng nỗi u sầu đó trở thành niềm hy vọng đối với những ai tin vào Đức Kitô. Thánh Phaolô đặt vấn đề và giải thích: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4). Vâng, như vậy cái chết không phải là “dấu chấm hết”, mà chỉ là “dấu phẩy”, là bước chuyển tiếp sang cuộc sống mới vĩnh hằng. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chết là sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình).

Sự thật kỳ diệu vậy ư? Đúng và chắc chắn như thế. Thánh Phaolô phân tích: “Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, chúng ta cũng sẽ nên một với Người nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6:5-7). Chết là giải thoát khỏi đau khổ, hoàn toàn có lợi cho chúng ta. Triết lý tâm linh này không hề dễ hiểu nếu không có niềm tin Kitô giáo.

Thánh Phaolô định tín: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6:8-9). Tử thần chính là ma quỷ. Đoàn âm binh của tướng Luxiphe đành thúc thủ, vì thế chúng cố vùng vẫy như con giun oằn khi bị đạp, như con rắn tìm cách cắn gót chân Đức Maria. Và rồi chúng tìm cách cám dỗ phàm nhân theo phe chúng. Nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng sẽ hoàn toàn thất bại.

Cầu cho các linh hồn là dịp để chúng ta nhìn lại thân phận mình mà chấn chỉnh Đức Tin. Có Chúa là có tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23:1). Tất cả đều sẵn sàng như tác giả Thánh Vịnh đã xác nhận: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23:2-3). Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn, chí minh và chí thiện, nơi Ngài chỉ có những gì thánh thiện nhất. Do đó, Ngài cũng chỉ làm những gì tốt lành mà thôi. Sự xấu có xảy ra với chúng ta là TẠI CHÚNG TA!

Có được Vị Chúa như vậy thì thật hạnh phúc, chẳng còn gì phải lo nữa. : “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23:4-6).

Cô Mác-ta là người đại diện cho cả nhân loại ghi nhận lời hứa của Đức Giêsu Kitô: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11:25-26). Chúng ta may mắn là những người đã tin Ngài, vấn đề còn lại là chúng ta phải cố gắng trung tín với Ngài cho tới hơi thở cuối cùng, dù hoàn cảnh có thế nào.

Để có được sự sống đó, chúng ta phải có Bánh Hằng Sống. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Mt 6:51).

Khi nghe nói vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau vì lời đó không bình thường, khiến họ chói tai. Họ không thể hiểu được Chúa Giêsu có thể cho chúng ta ăn thịt Ngài. Họ không tin vì họ hiểu theo cách thức của phàm nhân. Bình thường thì đúng là không ai ăn thịt hoặc uống máu người, nhưng họ đâu biết rằng với Thiên Chúa thì mọi thứ đều có thể.

Và Chúa Giêsu tái xác định với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Mt 6:52-55). Chúa Giêsu biết điều Ngài nói rất khó hiểu với phàm nhân, thậm chí là không thể hiểu, thế nên Ngài giải thích chi tiết hơn: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Mt 6:56-58).

Hôm đó, chắc chắn cả hội đường Ca-phác-na-um rất ồn ào vì người ta xôn xao bàn tán. Nhưng sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Nếu chúng ta hiện diện lúc đó, chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do-thái, nhưng thật may vì chúng ta là hậu duệ, được truyền lại đức tin được kiểm chứng lâu đời.

Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người đã từng được ăn Bánh Trường Sinh, Bánh Giêsu, các linh hồn đó sẽ có ngày được sống đời đời sau khi được thanh luyện cho xứng đáng với Thiên Chúa chí thiện. Nhân vô thập toàn, mấy ai vô tội đâu!

Có một loài hoa nhỏ có màu tím buồn: Forget-me-not, Việt ngữ gọi là Lưu Ly Thảo. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy của tình yêu đôi lứa. Nhưng với người Công giáo, nó mang một ý nghĩa khác, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn này. Vâng, Lưu Ly Thảo đang nhắc nhở chúng ta về lời kêu cứu tha thiết của các linh hồn nơi Luyện Hình: “Forget-me-not – Xin đừng quên tôi!”.

Khi cầu nguyện cho họ thì lại là chính cầu nguyện cho chúng ta. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Các linh hồn không tự “cải thiện” mức án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được phân loại là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).

Tháng Mười Một, chúng ta cùng nhau nhớ lại tâm sự của Thánh Faustina: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúa và muốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyện và hy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu lớn lao quá!

Có Chúa là có tất cả, Ngài là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 1:8; Kh 21:6; Kh 22:13). Ước gì chúng ta nói được như Thánh Thomas Aquino, Tiến sĩ Giáo hội: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó mới chính là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất của chúng ta.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì cuộc khổ nạn đau thương và máu của Đức Kitô, xin thương tha thứ và cho các linh hồn sớm về hưởng phúc trường sinh muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

NGHĨA TỬ LÀ NGHĨA TẬN

R.I.P. – REQUIESCAT IN PACE – XIN CHO CÁC LINH HỒN ĐƯỢC NGHỈ YÊN!

Cầu nguyện cho các linh hồn là trách nhiệm liên đới Kitô giáo. Đó cũng là tính hiệp nhất của cả ba Giáo hội: Giáo hội Khải hoàn (chư thánh), Giáo hội Đau khổ (các linh hồn nơi Luyện hình, chắc chắn sẽ làm thánh), và Giáo hội Chiến đấu (những người còn tại thế). Theo truyền thống tốt lành của Giáo hội Công giáo, tháng Mười Một là tháng đặc biệt cầu cho các linh hồn. Dĩ nhiên, chúng ta phải cầu nguyện cho các linh hồn hàng ngày, chứ không chỉ trong tháng Mười Một.

Đây là mong muốn “không giống ai” của Thánh Lm Don Bosco: “Da mihi animas, cœtera tolle – xin cho tôi các linh hồn, còn mọi sự khác cứ lấy đi”. Thánh nhân đã cảm nhận rất sâu sắc nên mới mong ước như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng đề cập tầm quan trọng của việc cứu các linh hồn khi Ngài nói với Thánh nữ Faustina: “Đừng sợ, hỡi ái nữ bé nhỏ, con không đơn độc đâu. Hãy chiến đấu can trường, vì tay Ta luôn nâng đỡ con. Hãy chiến đấu vì phần rỗi các linh hồn, khuyến khích họ tin vào Lòng Thương Xót của Ta, vì đó là NHIỆM VỤ của con ở đời này và và đời sau” (Nhật Ký, số 1452).

Sinh ký, tử quy. Sống gởi, thác về. Đó là quy luật muôn thuở. Kể cũng lạ, người đời mà cũng nói “tử quy – thác về”. Phải chăng người ta cũng “mơ hồ” nhìn nhận “chết là đi về” một cõi vĩnh hằng? Động từ “về” là nói tới việc di chuyển đến “nhà mình”, chí ít cũng là một nơi “thân quen”. Không ai nói “về” một nơi xa lạ hoặc nơi mình không thích. Tháng Mười Một cũng có thể coi là một Mùa Vọng khác và một Mùa Chay khác: Sám hối. Thiết nghĩ, dù có đức tin hay không, đó vẫn là “sự tiền định” – dù người vô tín ngưỡng (hoặc vô thần) hoặc những loại tôn giáo “phi đức tin” (non- hoặc no-) cho đó là “vô lý” hoặc “vô nghĩa”, người có “niềm tin” khác nói đó là “vòng luân hồi”. Ngày nay, điều đó có vô nghĩa với người có niềm tin? (Ở đây muốn nói NIỀM TIN CHÍNH ĐÁNG, không nói niềm tin lệch lạc). Tháng Mười Một nhắc nhớ về Sự Chết, phàm nhân cần phải sám hối để được cứu độ.

Càng sống lâu, người ta càng có “cơ hội” thấy những người khác “ra đi không hẹn trở lại” và tham dự nhiều đám tang. Dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù giỏi hay dốt,... ai cũng buông xuôi đôi bàn tay trắng! Đó là những dịp nhắc chúng ta nhớ lại quy luật Thiên Chúa đã tiền định từ ngàn xưa: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19). Cho sống hay bắt chết là quyền của Đấng Tạo Hóa: “Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29).

“Thời giờ thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mất chẳng chờ đợi ai”. Ca dao Việt Nam đã ví von như vậy. Thời gian qua mau thì đời người cũng mau qua. Mới sinh ra mà đã mau về già: “Tính tuổi thọ trong ngoài BẢY CHỤC, mạnh giỏi chăng là được TÁM MƯƠI, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 90:10). Khi tư tưởng chín muồi thì thân xác rã rời. Đó là nghịch-lý-thuận, hoặc có thể coi là một dạng “tỷ lệ nghịch” – cái này tăng, cái kia giảm.

Kiếp người mong manh là thế, không có lý do gì để mà chúng ta “hành hạ” nhau, ghen ghét nhau, thù hận nhau, hoặc không tha thứ cho nhau. Thật khó hiểu khi có những người vẫn kèn cựa nhau từng chút, kể cả những điều nhỏ nhoi nhất. Kinh Thánh đặt vấn đề: “Nếu Chúa chấp tội, nào ai rỗi được?” (Tv 130:3). Một câu hỏi nhỏ nhẹ mà gây “nhức đầu” lắm!

Khi bị người khác ghét, nếu xét theo lương tâm ngay thẳng mà thấy mình không sai trái, về phương diện bản tính nhân loại, mới đầu chúng ta có thể cảm thấy buồn, nhưng rồi chúng ta sẽ cảm thấy thanh thản vì được nên giống Đức Kitô. Chính kẻ thù lại cũng là ân nhân đấy, vì nhờ họ ghét mà mình hoàn thiện theo ý Đức Kitô. Vậy là chúng ta đang dần dần nên thánh đấy. Thật chí lý khi Chúa Giêsu bảo chúng ta “yêu kẻ thù, cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi mình, và làm ơn cho kẻ ghét” (Mt 5:44; Lc 6:27; Lc 6:35).

Rồi tất cả sẽ qua, cuộc đời này chẳng là chi cả, càng thu vén, càng nuối tiếc, càng tự dày vò mình: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình” (Tv 103:15-16). Nhưng thật may, các Kitô hữu có một chỗ vĩnh cư: Thiên Đàng, nơi có Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Maria, Đức Giuse, chư thần và chư thánh. Đại Gia Đình này mãi mãi hợp xướng liên khúc Yêu Thương và Cảm Tạ. Tuyệt vời biết bao!

Nếu cuộc sống là “vòng luân hồi”, chúng ta chẳng cần cố gắng chịu khổ chi cho cực thân, cứ hưởng thụ và xả láng, tức là không cần “vác thập giá”. Tại sao? Vì chết một cuộc đời này thì chúng ta lại có kiếp sống khác, dù kiếp khác có thể là một con vật, thậm chí chỉ là kiếp phù dung. Nghĩa là được “chuyển kiếp”, sống lại lần nữa rồi tái sống lại lần nữa. Chẳng có gì phải lo sợ! Thế nhưng không phải vậy đâu, người ta chỉ có một kiếp sống thôi. Kiếp sau là đời đời, một là huy hoàng, hai là khốn nạn. Đôi nơi cách biệt, người bên này không thể qua bên kia, hoặc ngược lại (x. Lc 16:19-31), đó là điều Tổ phụ Áp-ra-ham đã xác định trong dụ ngôn “Phú hộ và Ladarô”. Vì thế mà người ta mới phải cố gắng sống tốt để trường sinh bất tử trên Thiên Quốc.

Thời Cựu Ước, ông Cô-he-lét đã nhận xét: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên. Gió thổi xuống phía nam, rồi xoay về phía bắc: gió xoay lui xoay tới rồi gió đi ; gió trở qua trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển, nhưng biển cũng chẳng đầy. Sông chảy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới. Điều đã có, rồi ra sẽ có, chuyện đã làm, rồi lại sẽ làm ra: DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI, NÀO CÓ CHI MỚI LẠ?” (Gv 1:2-9). Chẳng có gì bền vững, cái gì cũng chỉ có “một thời” mà thôi (x. Gv 3:1-8).

Kiếp người đầy gian truân, đời người tưởng dài mà ngắn: “Con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (Tv 144:4). Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng thắc mắc về thân phận con người: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…” (Cát Bụi). Ông không là Kitô hữu, nhưng nhân sinh quan và ý thức hệ của ông rất gần với Công giáo.

Trong ca khúc “Một Mai Em Đi”, Nhạc sĩ Trường Sa viết: “Một mai xa nhau XIN NHỚ CHO NHAU NỤ CƯỜI, cho cuộc tình người hẹn hò nhau đến kiếp mai. ĐỪNG HẬN NHAU NỮA, lệ nào em khóc cho đầy, tình đã mù theo sương khói, theo cơn gió lùa tả tơi”.

Sự xa nhau là chuyện của hai người yêu nhau về tình cảm nam nữ. Ở đây chúng ta không bàn về chuyện đó, mà nói về “sự xa nhau” giữa con người với con người, tức là sự chết. Đại từ “em” ở đây không hẳn là ngôi thứ hai số ít, mà có thể là bất kỳ ai. Và người ta thường nói: “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Có ý nói rằng, dù có giận ghét nhau tới đâu thì người ta cũng sẵn sàng tha thứ cho nhau khi đứng giữa làn ranh Sinh – Tử, đối diện với Tử thần.

“Một mai em đi ngày tháng bơ vơ giận hờn, NHỚ VỀ TÌNH NGƯỜI buồn như con nước đã vơi. Lời nào gian dối để người đã lỡ một giờ, một đêm nào em đã lỡ buông tay ngậm ngùi xót xa”. Gần nhau thì coi thường nhau, có yêu thương thì đôi khi cũng chỉ là môi miệng, lẻo mép. Khi “xa nhau” rồi mới thấy thương tiếc, yêu thương, muốn nói lời xin lỗi mà không còn kịp nữa rồi. Người “ra đi” có thể còn buồn hoặc không, nhưng chắc chắn người ở lại sẽ buồn nhiều, thậm chí còn bị lương tâm cắn rứt khôn nguôi!

Câu kết của ca khúc “Một Mai Em Đi” thật là thấm thía: “Đời vui không mấy, niềm đau đã chín kiếp người, lòng đâu phụ nhau thêm nữa, khi mai KHÔNG CÒN CÓ NHAU”. Vâng, nghĩa tử là nghĩa tận, đừng phụ lòng nhau nữa. Và như vậy, chắc hẳn không ai lại nỡ khép lòng lại với nhau, mà sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau mọi thứ – cả tinh thần lẫn vật chất.

Nghĩa tử là nghĩa tận. Chúng ta cũng nên “tập chết” hàng ngày. Hãy yêu thương và tha thứ, kẻo không còn cơ hội. Đừng “Hận Tình” (ca khúc của Nhạc sĩ Anh Bằng và Mạc Phong Linh) mà thắc mắc với nhau: “Nếu mai anh (em) chết em (anh) có buồn không? Sao em (anh) không đến khi anh (em) còn sống? Lỡ mai anh (em) chết em (anh) khóc nhiều không. Anh (em) xin bia đá ghi tên người sống”. Sự hối hận luôn mang ý nghĩa muộn màng, và sự muộn màng luôn đồng nghĩa với sự nuối tiếc!

Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời (Gv 3:1-8). Vâng, tất cả chỉ là phù vân, chẳng có gì bền vững, chỉ có Thiên Chúa là Đấng vạn đại trường tồn (Tv 102:25). Con người chẳng là chi, vậy mà Thiên Chúa vẫn cần biết đến (x. Tv 144:3). Và còn hơn thế nữa, Ngài yêu thương chúng ta đến cùng (Ga 13:1), làm ngơ mọi tội lỗi tày trời của chúng ta, bằng chứng là Chúa Giêsu đã đổ đến giọt máu và nước cuối cùng (Ga 19:34). Đặc biệt là Thiên Chúa rất muốn chúng ta được hạnh phúc bên ngài mãi mãi. Thật là mầu nhiệm quá!

Tháng Mười Một, Giáo hội mời gọi chúng ta: “Oremus pro Defunctis – Xin cầu cho các linh hồn”. Cầu cho người mà lại có lợi cho mình: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Thánh Phanxicô Assisi). Tháng Cầu Hồn phủ đầy màu tím rịm, khói buồn lan tỏa, nghi ngút nén nhang thương nhớ, đặc biệt là chúng ta ghi nhớ lời Thánh Vịnh: “Dù sống trong danh vọng, con người cũng không thể trường tồn; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49:13).

Trong ca khúc “Nửa Hồn Thương Đau”, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương tâm sự: “Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngát... Ôi những người khóc lẻ loi một mình...!”. Nỗi cô đơn lớn quá! Ở đây chúng ta hiểu nghĩa “tím” và “lẻ loi” theo định hướng Kitô giáo, chứ không hiểu theo nghĩa “đời thường”. Vâng, một trong các nghĩa “cô đơn” đó là nghĩa cô đơn của em Phạm Thị Nhung và gia đình em Nhung. Đó là ai?

Em Phạm Thị Nhung là học sinh lớp Ba, con nhà nghèo, 10 tuổi, học sinh Trường tiểu học Nguyễn Đức Bồng (xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Em bị bệnh tim bẩm sinh, vì nhà nghèo nên phải nhịn đói buổi sáng để đến trường. Em chết vì ĐÓI lúc 10 giờ ngày 25-9-2014. Em có là Kitô hữu hay không, đó không là vấn đề, vấn đề là CÓ PHẦN TỘI CỦA CHÚNG TA LIÊN QUAN TRONG CÁI CHẾT CỦA EM, vì chúng ta cứ leo lẻo bảo “xóa đói, giảm nghèo”, nhưng chúng ta đã “giảm” được gì và “xóa” được gì, chúng ta có làm được gì thực tế chưa? Hay chỉ theo “bề nổi” để vinh danh mình? Thậm chí, ngay khi chúng ta đi làm từ thiện, có vẻ chúng ta vẫn trọng “bề ngoài” (để đăng báo, để đưa tin,...) hơn là yêu mến thật lòng. Có oan không? Ai có thể biện hộ cho cái chết của bé Nhung? Chúng ta trả lời với Chúa như thế nào đây? Vâng, lạy Chúa, LỖI TẠI CON MỌI ĐÀNG. Con xin lỗi Chúa!

Tháng Mười Một là tháng của... Sự Chết. Ngoài Thiên Chúa, chắc hẳn không ai có thể biết ngày giờ chết. Thế mà có người được Thiên Chúa cho biết ngày giờ chết. Đó là Tu sĩ Gioan, qua đời năm 1501, một nông dân chính hiệu, chỉ là “người làm vườn” thôi, và tới nay cũng chỉ mới được Giáo hội tôn phong là Tôi Tớ Chúa, nhưng ngài đã được ơn biết trước giờ đối diện với Tử Thần.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Bồ Đào Nha. Mồ côi sớm, chính ngài phải ĐI ĂN XIN vài năm để sống. Sau khi có việc làm ở Tây Ban Nha là chăn chiên, NGÀI CHIA SẺ PHẦN THU NHẬP ÍT ỎI CỦA MÌNH VỚI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHỔ HƠN MÌNH. Người khác nhìn thấy thế chắc hẳn cho ngài là “đồ khùng”, nghèo mà còn “chảnh”. Một hôm, hai tu sĩ dòng Phanxicô gặp Gioan trên đường đi, trong khi nói chuyện, hai tu sĩ này thấy quý mến một con người ĐƠN GIẢN và mời Gioan đến làm việc tại tu viện của họ ở Salamanca. Gioan chấp nhận và được phân công LÀM VƯỜN. Một thời gian sau, Gioan đã nhập Dòng Phanxicô, sống cuộc đời chiêm niệm, ăn chay, giúp đỡ người nghèo, và dành thời gian ban đêm để cầu nguyện. Vì công việc của ngài là làm vườn và chăm sóc hoa để cắm trên bàn thờ, ngài nổi tiếng với danh xưng “người làm vườn”.

Thiên Chúa ban cho Gioan có BIỆT TÀI NÓI TIÊN TRI và BIẾT RÕ TÂM HỒN NGƯỜI KHÁC. Các nhân vật quan trọng, kể cả các hoàng tử, cũng đến với ngài để xin lời khuyên. Ngài là người KHIÊM NHƯỜNG và TUYỆT ĐỐI VÂNG LỜI. Ngài YÊU THƯƠNG CẢ NHỮNG NGƯỜI MUỐN CHỐNG ĐỐI NGÀI. Lời khuyên của ngài là THA THỨ vì ngài bảo đó là HÀNH ĐỘNG ĐẸP LÒNG CHÚA NHẤT. Ngài đã TIÊN BÁO đúng ngày ngài qua đời: 11-1-1501.

Ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đó là người có CÁCH SỐNG ĐƠN SƠ NHƯ TRẺ EM (Mt 18:1-5; Mc 9:33-37; Lc 9:46-48). Theo nghĩa “lớn” – thậm chí là vĩ đại – của Chúa Giêsu, người lớn KHÔNG là người cao niên, quyền thế, giỏi giang, giàu có,... Thánh nữ Teresa học chẳng bằng ai, tu chẳng bao lâu, làm chẳng được việc gì lớn, thế mà Giáo hội tôn vinh là Tiến sĩ nhờ bí quyết “Con Đường Thơ Ấu”. Còn chúng ta, đủ loại bằng cấp, quyền cao chức trọng, tiền rừng bạc bể, uy tín nhiều,... để làm gì? Vấn đề quan trọng là chúng ta có Bằng Cấp Bác Ái (mến Chúa, yêu người) hay không. Mỗi người phải tự trả lời!

Nghĩa tử là nghĩa tận – với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin thương tha thứ hình phạt cho các linh hồn và sớm cho các ngài về hưởng Tôn Nhan Chúa muôn đời. Xin giúp chúng con biết cố gắng sống cho trọn ba đức đối thần và các nhân đức đối nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.