SUY NIỆM LỄ CHÚA GIÁNG SINH _C

21-12-2018 183 lượt xem

QUÀ NOEL LÀ ƠN BÌNH AN CHÚA BAN CHO NGƯỜI THIỆN TÂM

1.

Mỗi dịp mừng Noel, tôi đều cầu Chúa nhiều điều cho những người thân yêu, cho Hội thánh, cho quê hương.

2.

Điều mà tôi luôn cầu chúc tha thiết nhất, chính là sự bình an. Tất nhiên, sự bình an đó nhắc lại sự bình an, mà các thiên thần đã chúc tại Belem xưa, khi Chúa giáng trần.

3.

Năm nay, tôi càng tha thiết hơn với ơn bình an, bởi vì bình an đang bị đe dọa khắp nơi. Tha thiết của tôi được trở thành hành động bằng sự tăng cường cầu nguyện.

4.

Thế rồi, qua một đêm, khi thức dậy, tôi cảm thấy một sự bình an đã đến với tôi.

Tôi xin phép được chia sẻ.

5.

Suốt đêm rồi, trong giấc ngủ, tôi chiêm bao, tôi được đến một tu viện rộng lớn. Các tu sĩ đều là các thầy dòng mặc tu phục màu nâu. Trong một thời gian dài, tôi được đi thăm nhiều nơi nhiều chỗ của tu viện. Tới đâu, tôi cũng cảm được một bầu khí đạo đức sáng rực mến Chúa thương người.

6.

Cảm được là nhìn thấy được, nghe được, sờ thấy được.

Tôi đã được lãnh nhận phép giải tội. Tôi đã ban phép giải tội cho nhiều người. Chúng tôi đã cầu nguyện chung, đã trao đổi với nhau rất chân thành về những gì nên làm cho Hội thánh và cho quê hương. Tất cả những gì nên làm đều là mến Chúa thương người, trong Chúa, nhờ Chúa và vì Chúa.

7.

Tôi cảm thấy mình nhẹ nhàng và hạnh phúc lạ lùng. Tôi coi đây là một món quà Chúa ban, để tôi đầu tư cho chuyến đi của tôi về cõi sau. Bởi vì tôi nay đã rất già yếu.

Khi vừa tỉnh giấc, tôi nghe một tiếng nói trong lòng: “Quà Noel là ơn bình an”. Thực đã rõ ràng.

8.

Noel này, tôi phải biết đón nhận bình an và biết cho đi bình an. Lãnh nhận và cho đi theo hoàn cảnh cụ thể.

9.

Để lãnh nhận và cho đi sự bình an, mà Chúa muốn, tôi phải để ý nhiều tới cái tâm.

10.

Theo tôi, cái tâm của tôi được nên thiện đầu tiên, nhờ sự tôi được biết cảm thương với sự đau khổ và nghèo khó khiêm nhường của Chúa Giêsu giáng sinh.

Từ sự cảm thương đó, tôi từng bước lên với Chúa và đến với con người.

Cái tâm khi biết cảm thương sự đau đớn, sự khiêm nhường, sự nghèo khó của Chúa giáng sinh, sẽ mở rộng ra, để giúp phối hợp giữa đức tin và lý trí trong đời sống thiêng liêng.

11.

Thánh Phanxicô Assisi đã làm gương về con đường đó. Thánh Augustinô cũng đã đề cao cái tâm, để cảm thương con người, nhờ đã cảm thương Chúa.

12.

Nhận thức trên đây thúc đẩy tôi xem xét lại cái tâm của mình. Để dễ xem xét lại cái tâm của mình, tôi thường đọc hay hát lời Kinh hòa bình sau đây:

       “Lạy Chúa từ nhân!

       Xin cho con biết mến yêu

       Và phụng sự Chúa trong mọi người.

       Lạy Chúa, xin hãy dùng con,

       Như khí cụ bình an của Chúa,

       Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,

       Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,

       Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

       Để con đem tin kính vào nơi nghi nan,

       Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,

       Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm.

       Ðem niềm vui đến chốn u sầu.

       Lạy Chúa xin hãy dạy con:

       Tìm an ủi người hơn được người ủi an,

       Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,

       Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.

       Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,

       Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,

       Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,

       Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

       Ôi! Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con,

       Xin thương ban xuống

       Những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình”.

13.

Sau khi được nếm thử những gì Chúa đã ban cho tôi về ơn bình an, tôi đã làm 3 việc sau đây:

Một là tôi cảm tạ Chúa đã thương dạy tôi về ơn bình an.

Hai là tôi xưng mình là kẻ yếu đuối, còn vô số những sai lầm.

Ba là tôi tuyên xưng lòng tin cậy của tôi nơi Chúa.

14.

Tôi cũng làm 3 việc đó đối với mọi người theo từng cung bậc.

Một lần nữa tôi xin Chúa ban bình an cho mọi người và cho tôi.

Bình an nhờ thiện tâm, đó là lời chúc Noel 2018 và cũng là lời chào năm mới 2019.

+ ĐGM. GB. Bùi Tuần

ÁNH SÁNG CHÂN LÝ CHIẾU TỎA

THIÊN CHÚA QUANG LÂM 天  主  光 臨

†  THƯỢNG GIỚI VINH DANH THIÊN CHÚA GIẢ

上 界 榮 名 天 主 者

†  HỒNG TRẦN AN LẠC THIỆN TÂM NHÂN

紅 塵 安 樂 善 心 人

CHÚA ĐẾN TRONG VINH QUANG

VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRÒI THẲM

AN LẠC NGƯỜI LÀNH DƯỚI THẾ GIAN

Khi suy niệm những bài đọc trong Thánh lễ Nửa đêm Giáng Sinh, không thể quên lời khẳng định của thánh Phao-lô qua bài đọc Tân Ước: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.” (Tt 2, 11-12). Quả thật Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã cứu con người, không phải vì loài người đã làm những việc công chính; mà chính vì Lòng Thương Xót muốn cho người tín hữu được tái sinh làm con Chúa, nhờ ân sủng của Đức Ki-tô để được đầy Thánh Thần và được thừa hưởng sự sống đời đời. Còn ngôn sứ Isaia, trong bài đọc thứ nhất, diễn tả lời Thiên Chúa hứa rằng Lòng Thương Xót sẽ đổi mới thân phận dân Chúa trở thành “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9, 1).

Bài đọc 2 trích thư của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Ti-tô (Tt 2, 11-14), cốt ý nhắc nhở “người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung” (Tt 1, 4), là hãy giảng dạy và làm gương tại Cơ-rê-ta về “Bổn phận của các hạng tín hữu” (từ các cụ ông, cụ bà, tới các người vợ trẻ, các thanh niên). Cuối cùng, ngài nhấn mạnh: “Nền tảng thần học của những đòi hỏi trên: Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Ki-tô Giê-su là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang. Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.”

Căn cứ trên mầu nhiệm Giáng Sinh mà Thánh Phao-lô và các cộng sự viên của ngài như Mác-cô, A-rít-ta-khô, Đê-ma và Lu-ca (Plm 24; Cl 4, 10) đã kinh qua trong thời gian rao giảng Tin Mừng kể từ khi Đức Giê-su Ki-tô về trời, Thánh nhân đã gửi thư cho Ti-tô với mục đích là khuyên nhủ các tín hữu (kể cả chính môn đệ Ti-tô) hãy luôn giữ vững cái “nền tảng thần học” bất di bất dịch đó trong cuộc sống bằng một tư thế chuẩn bị sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến lần thứ hai. Đó sẽ là chuỗi ngày giống như thời gian Cựu Ước trông đợi Chúa đến lần thứ nhất: “Dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9, 1). Quả thực là trong bóng tối của đêm trường Cựu Ước, “ánh sáng huy hoàng” đã bừng lên chiếu rọi khắp nơi nơi: Mầu nhiệm Giáng Sinh đã tỏ hiện.

Thánh sử Gio-an là người hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Giáng Sinh (bài Tin Mừng lễ ban ngày – Ga 1, 1-3), nên ngài không dừng lại ở hiện tượng để miêu tả việc Chúa sinh ra; mà là khẳng định: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành.” Thánh nhân đã nhìn máng cỏ, nhìn mầu nhiệm Chúa ra đời như là một sáng tạo mới của Thiên Chúa dành cho loài người. Sách Tin Mừng theo Thánh Gio-an bắt đầu bằng cụm từ "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời" khiến người đọc phải nghĩ tới những chữ đầu tiên của toàn bộ Kinh Thánh là sách Khởi Nguyên (Sáng Thế Ký) nói đến việc Thiên Chúa sáng tạo vạn vật và dựng nên lịch sử nhân loại (“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” – St 1, 1). Liên hệ thời điểm Ngôi Lời nhập thể với "lúc khởi nguyên" để bắt đầu nói về Tin Mừng Cứu Độ nhằm gợi lên việc Đức Giê-su sinh ra, Thánh Gio-an muốn nói lên một chân lý: việc Chúa Giáng Sinh bắt đầu một sáng tạo mới, một lịch sử mới, không phải để thay thế lịch sử và sáng tạo cũ, nhưng để làm cho chúng nên mới mẻ.

Trong bài Tin Mừng này, Thánh sử Gio-an nhấn mạnh đến vấn đề ánh sáng trong việc sáng tạo. Sách Sáng Thế trình thuật về việc Thiên Chúa dựng nên trời đất, ngay từ ngày đầu tiên trong “bóng tối bao trùm vực thẳm”, Thiên Chúa đã phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là "ngày", bóng tối là "đêm". (St 1, 3-5). Rồi những ngày sau trong ánh sáng Tình Yêu, Thiên Chúa tiếp tục dựng nên trời đất, vạn vật và nhất là con người. Sau sáu ngày “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1, 31) và Người chúc lành cho ngày thứ bảy, ngày “Thiên Chúa nghỉ ngơi” (St 2, 1-2). Rõ ràng ánh sáng Tình Yêu từ khởi nguyên lại bừng lên trong đêm Ngôi Lời giáng thế (“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.” – Ga 1, 9). Đó chính là công trình Sáng Tạo Mới của Thiên Chúa được thực hiện nơi hang đá Bê-lem: E-và Mới (“Người Nữ đạp nát đầu con rắn” – St 3, 15) hạ sinh Trưởng Tử A-đam Mới (“A-đam cuối cùng” – 1Cr 15, 45).  

Vì thế, có thể gọi đoạn mở đầu Tin Mừng theo Thánh Gio-an là “Bài Ca Ánh Sáng”. Thánh nhân đã định nghĩa “Thiên Chúa là Ánh sáng”, mà Ðức Giê-su là Ngôi Lời Thiên Chúa giáng trần, nên Người là “Ánh sáng ban Sự Sống” (những gì được tạo thành nơi Người thì đó là sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại); Ngôi Lời là “Ánh Sáng Cứu Ðộ” (Ngôi Lời Thiên Chúa đã chiếu vào bóng đêm chết chóc trần gian một làn ánh sáng cứu độ, những ai tiếp nhận ánh sáng này thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa); Ngôi Lời là “Ánh Sáng Tình Yêu” (Vì tình yêu mà Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài; vì tình yêu mà Thiên Chúa đã cứu chuộc muôn loài, nên Ngôi Lời là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa chiếu tỏa trên trần gian). Ấy cũng bởi vì Ngôi Lời chính là “Ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (Kinh Tin Kính) soi chiếu vào đêm đen u tối trần gian nguồn Ánh Sáng Chân Lý bất diệt: Hồng ân Cứu Độ.

Cũng chính Ngôi Lời đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12, 46). Không những thế, Người còn công nhận những ai theo Người là “ánh sáng cho trần gian” (“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian…, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” – Mt 5, 14-16). Ý thức được nền tảng thần học “Ánh sáng Đức Ki-tô” như vậy, người Ki-tô hữu hãy sống đúng như lời khuyên của Thánh Phao-lô Tông đồ: “Anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối.” (1Tx 5, 4-5).

Như vậy là đã rõ, chính Ánh Sáng Chân Lý chiếu tỏa từ hang đá Bê-lem là nền tảng thần học xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa. Ân sủng đó đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Thế nên, khi chiêm ngưỡng Hài Nhi mới sinh nơi máng cỏ, người Ki-tô hữu phải coi như được sống trong công trình sáng tạo mới của Thiên Chúa, để đi vào thế giới mới, lịch sử mới, sự sống mới mà Hài Nhi thành Bê-lem mang đến cho chính mình. Để từ đó, ý thức được bổn phận của mình là:  “phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Ki-tô Giê-su là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang.” (Tt 2, 11-13).

Ôi! Lạy Chúa! Chính “Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11, 25). Xin cho chúng con được trở nên những kẻ bé mọn như những mục đồng năm xưa cùng hợp hoan với muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương." (Lc 2, 13-24).

Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen. Alleluia!

JM. Lam Thy ĐVD

CÁI NGHÈO

Giáng Sinh nhắc nhở yêu thương, bởi vì Chúa giáng sinh trong cảnh cơ hàn. Cái nghèo là cái “nổi bật” trong cảnh giáng sinh, nhưng người ta thường làm cho người ta cảm thấy vui nhộn vì sự hào nhoáng. Giáng Sinh gắn liền cái nghèo, cái nghèo gắn liền cái khổ. Nghèo thì khổ, và gọi tắt cho gọn là Nghèo Khổ.

Ai cũng biết đời là khổ – có khi là bể khổ, có khi là hố khổ, có lúc là núi khổ hoặc đồi khổ, có lúc lại là thung lũng khổ. Khổ dai như đỉa đói, dai nhách như cao su cắt không đứt. Khổ đêm, khổ ngày. Khổ gầy, khổ béo. Khổ xéo, khổ xiên. Khổ trên, khổ dưới. Khổ tới, khổ lui. Khổ mãi chẳng qua. Khổ xa, khổ gần. Khổ lầm lũi, khổ lủi thủi, khổ mà thấy tủi. Khổ đủ kiểu, đủ mức. Có nhiều thứ khổ, nhưng có lẽ cái khổ cụ thể nhất là cái nghèo – dù cái nghèo chỉ nhỏ xíu, bé tẹo teo. Khổ mãi. Khổ hoài. Khổ miết. Và… khổ tới chết!

Trong thi phẩm “Vịnh Cảnh Ngèo”, thi sĩ Nguyễn Công Trứ (1778–1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, nhà chính trị và quân sự thời nhà Nguyễn) đã từng than thở về phận nghèo bọt bèo, nhưng ông không bi quan mà vẫn hy vọng tương lai xán lạn:

Chẳng phải rằng ngây, chẳng phải đần

Bởi vì nhà khó hóa bần thần

Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo

Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân

Số khá, bĩ rồi thời lại thái

Cơ thường, đông hết hẳn sang xuân

Giời đâu riêng khó cho ta mãi

Vinh nhục dù ai cũng một lần.

Với trí óc nông cạn và thiển cận, con người không thể hiểu hết “ý trời” nên cho là hên – xui hoặc “số kiếp”. Có thể cũng đúng khi nói “số kiếp” – một dạng theo kiểu tiền định, bởi vì tất cả đều là Ý Chúa – dù một sợi tóc cũng không ngoài ý Ngài, sợi nào rụng hay còn thì Ngài đã đếm hết rồi (x. Mt 10:30; Lc 12:17). Cái nghèo rất mông lung, đa dạng, không thể định mức chính xác. Vậy thế nào là nghèo? Rất khó phân định. Nhưng theo Kinh Thánh, người nghèo là người “chẳng có gì cả” (2 Sm 12:3). Đơn giản chỉ thế thôi. Ôi, thế thì te tua, tơi tả, tê tái thật!

Như đã nói, Giáng Sinh liên quan cái khổ. Giáng Sinh sao lại nói chuyện khổ thế? Buồn lắm! Bàn chuyện nghèo không phải để than vãn, ủy mị hoặc bi quan, yếm thế, mà để nhận diện cái nghèo, biết nó để yêu quý nó, chứ không xa lánh hoặc ghê tởm. Cái nghèo đáng yêu chứ không đáng ghét, bằng chứng là Chúa Giêsu đã chọn cách sinh nghèo và sống nghèo để dạy bài học về cái nghèo. Đã và đang có các đệ tử chọn cái nghèo của Ngài để sống: Thánh Phanxicô Assisi, Mẹ Teresa Calcutta,…

Ở đâu cũng thấy cái nghèo, ngay cả ở những nơi hoa lệ, đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em” (Mt 26:11; Mc 14:7; Ga 12:8). Nghĩa là Ngài bảo chúng ta phải biết thương người nghèo. Thật lạ lùng, cái nghèo có thể là liệu pháp hoặc biệt dược để tăng lực chúng ta: “Thiên Chúa dùng cái nghèo để giải thoát người nghèo, dùng khổ đau mà mở mắt họ” (G 36:15). Biết vui vẻ chấp nhận cái nghèo thì có phúc, ngược lại thì hóa khốn: “Hãy coi chừng, đừng để cho mình bị giàu sang mê hoặc, hay bị lung lạc vì quà cáp bạc tiền” (G 36:18).

Người Việt có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Nhiều người giàu hóa nghèo vì ỷ lại, khinh đời và khinh người, và rồi cái gì đến cũng đến, như Kinh Thánh cho biết: “Cái nghèo sẽ đến như tên du thủ du thực, cảnh bần cùng sẽ đột nhập như người có vũ trang” (Cn 6:11 và Cn 24:34).

Chắc chắn không ai muốn nghèo, nhưng có người cố gắng mãi vẫn không “ngóc đầu” lên được, dù họ chăm chỉ, cần mẫn, chịu thương chịu khó chứ không hề lười biếng hoặc bất cần. Chúa rất thương những người đó, nhưng chưa tới lúc Ngài ra tay tế độ. Ngài không để ai chịu đựng quá sức, và Ngài sẽ ra tay đúng lúc: “Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo” (Tv 72:12-13a).

Thiên Chúa là Đấng “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8:9). Mỗi dịp Giáng Sinh là thời điểm tốt để chúng ta nhận biết rõ ràng điều đó: Hang đá hoang lạnh, đám mục đồng nghèo, bầy súc vật, xung quanh vắng lặng giữa đêm khuya khoắt. Tưởng tượng cũng có thể nhận biết sự hiu quạnh như thế nào. Thật là khổ khi chẳng ai quen biết để nhờ vả trong cơn khốn khó và túng bấn!

Thánh Gia là một gia đình nghèo khổ quá chừng! Nghe hai từ “kiếp nghèo” là thấy “oải” lắm rồi. Chẳng ai muốn “dính líu” tới nó mà nó như ma trơi cứ đeo bám sát nút. Nhưng cuộc đời vẫn có vô vàn kiếp nghèo ở khắp nơi trên thế giới, ngay bên chúng ta cũng vẫn có nhiều. Kiếp nghèo như một “định mệnh” mà người ta khó có thể biến chuyển số phận. Thật vậy, ca dao Việt Nam có lời than thở này:

Cây khô tưới nước cũng khô

Người nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo.

Ôi chao, sao mà bi đát quá! Cái nghèo KHÔNG LÀ TỘI nhưng có thể là “cái vạ”, bởi vì nó như quỷ tha ma ám, đeo bám người ta mà không chịu buông tha. Với kinh nghiệm trường đời, người ta thường có cách nói ví von: “Nghèo rớt mồng tơi, nghèo ho ra máu, nghèo lụi vô bờ, nghèo phơ tóc bạc, nghèo khạc ra khổ, nghèo bổ ngửa ra, quỷ tha ma bắt”. Đúng là khổ thật, khổ quốc tế, khổ kinh niên, khổ vô duyên, khổ truyền kiếp!

Nghèo khổ nhưng vẫn còn diễm phúc vì Thiên Chúa rất thương xót người nghèo. Chính Ngài đã “bắt” Thánh Tử Ngôi Hai nhập thể và nhập thế trong hoàn cảnh vô cùng nghèo hèn để đồng cam cộng khổ với nhân loại chúng ta – đặc biệt là đối với những con người nghèo hèn, bé mọn. Có thể nói rằng Lễ Giáng Sinh là… “lễ nghèo” – vì Con Chúa giáng sinh làm người trong cảnh cơ hàn, khó khăn, trong hoàn cảnh te tua, tơi tả, thê thảm!

Trở lại Belem ngày xưa, Kinh Thánh cho biết trong một đêm giá lạnh, Sứ thần báo tin cho các mục đồng biết “dấu hiệu đơn giản” về Chúa Hài Đồng – Vương Nhi Giêsu: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12). Thế thôi, chẳng có gì hơn. Nghèo thấy rõ. Nhìn là biết nghèo rớt mồng tơi rồi!

Rồi Thánh sử Luca cho biết: “Các mục đồng hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Cô Maria, Chú Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Các mục đồng là dân nghèo thứ thiệt, nghèo “chính hiệu”, vì họ là mục đồng, những người chăn súc vật, nhưng họ chỉ là những người chăn thuê, chứ họ chẳng sở hữu con vật nào ráo trọi. Một thực-tế-buồn như vậy đấy!

Và rồi CHỈ CÓ NGƯỜI ĐÃ TỪNG NGHÈO MỚI BIẾT THƯƠNG XÓT NGƯỜI NGHÈO, ngoài ra chỉ là NÓI PHÉT (chữ “nói phét” của người miền Bắc có ý nghĩa “mạnh” hơn chữ “nói láo” của người miền Nam và Trung), vì có những người mang danh nghĩa là hoạt động tông đồ Lòng Chúa Thương Xót nhưng không hề thương xót đúng nghỉa của Chúa Giêsu. Quả thật, đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Có ăn nhạt mới biết thương mèo”. Câu nói rất đơn giản nhưng thâm thúy lắm, chí lý lắm!

Ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa thương xót, vì thế bất kỳ ai cũng có TRÁCH NHIỆM và BỔN PHẬN phải loan báo Tin Mừng và loan truyền Lòng Chúa Thương Xót, chứ chẳng riêng ai. Tuy nhiên, những người được giao đặc trách thì PHẢI có cách sống tốt nổi trội hơn người khác mới là hợp lý (theo kiểu loài người) và đúng luật (theo Ý Chúa). Thực sự CHÚA CHỈ THƯƠNG XÓT NHỮNG AI KÍNH SỢ NGÀI (Lc 1:50), ai kính sợ Ngài thì phải làm sao cho hợp lý. Cái “hợp lý” ở đây mới là mức độ “đau cái điền” (điên cái đầu, nhức đầu). Cây càng cao, gió càng lay. Tự nhiên là thế!

Liên quan vấn đề thương xót, dụ ngôn “Người Samari Nhân Hậu” (Lc 10:30-37) cho thấy rõ bằng câu chuyện kể về một người bị cướp dọc đường. Thầy tư tế và thầy Lêvi đi qua, sợ khó đến thân nên bỏ đi, mặc kẻ bị nạn bán sống bán chết. Một người Samari thấy vậy thì “chạnh lòng thương”, đưa nạn nhân vào bệnh viện (hoặc trạm xá, hoặc nơi y tế nào đó), ông ta “đặt cọc” một số tiền (vì túi ông hiện chỉ có như vậy), rồi căn dặn và hứa với người chăm sóc: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Lời hứa của ông được chấp nhận chắc hẳn người ta thấy ông là người uy tín lắm.

Nói xong, Chúa Giêsu hỏi ai trong ba người đó là người-lân-cận. Thầy thông luật “vô tư” trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Chúa Giêsu chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông HÃY ĐI, và cũng HÃY LÀM như vậy”. Lời Chúa nói với người Samari hay nói với mỗi người chúng ta? Như thế mới là thương xót! Chúng ta có can đảm nhìn và tự hỏi: Tư tế và Lêvi là ai? Họ là thầy dạy cái gì? Còn Samari là ai? Họ KHÔNG DẠY cũng KHÔNG NÓI, nhưng họ LÀM. Có ai thấy “nhức đầu” chút nào? Nếu thực sự cảm thấy “nhức đầu”, đó là dấu hiệu tốt.

Rất đa dạng Giáng Sinh, mỗi người mỗi vẻ: Giáng Sinh rộn ràng. Giáng Sinh lạnh lẽo. Giáng Sinh đẹp đẽ. Giáng Sinh huy hoàng. Giáng Sinh đầm ấm. Giáng Sinh ngọt ngào. Giáng Sinh giản dị. Giáng Sinh phức tạp. Giáng Sinh hoành tráng. Giáng Sinh lặng lẽ. Giáng Sinh hào nhoáng. Giáng Sinh tưng bừng. Giáng Sinh thánh thiện,...

Ngắm nhìn Thánh Gia nơi hang đá Belem (trong TÂM TRÍ nhiều hơn trong THỰC TẾ – vì các Hang Đá ngày nay không nghèo chút nào), có nhiều bài học giá trị liên quan nhân phẩm, nhân vị và nhân quyền. Ước mơ của người nghèo đơn giản lắm, thế mà sao lại khó hiện thực quá chừng!

Đại văn hào Victor Maria Hugo (1802–1885, Pháp quốc) nhận định: “Có ba vấn đề lớn nhất của thế kỷ: sự tha hóa của đàn ông trong nghèo khổ, sự khuất phục của phụ nữ qua cơn đói, sự teo mòn của trẻ nhỏ vì bóng tối”. Đó là vấn đề “to lớn” khiến chúng ta phải suy tư nhiều! Cũng liên quan vấn đề nghèo, Kinh Thánh cho biết: “Trí khôn ngoan hơn cả sức mạnh, nhưng cái khôn của người nghèo lại bị khinh dể, lời người ấy nói, chẳng ai chịu lắng nghe” (Gv 9:16). Sự thật phũ phàng biết bao!

Khi đề cập cái nghèo, chúng ta cũng nên phân biệt sự giàu – nghèo về vật chất hay tinh thần (tâm linh). Thiết tưởng cũng đáng lưu ý điều này: Người ta nghèo không phải vì CÓ ÍT mà vì MUỐN NHIỀU (sở hữu tiền bạc, của cải,... nói chung là vật chất). Đó mới thực sự là mức nghèo đáng quan ngại, thậm chí là nguy hiểm, bởi vì “cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1 Tm 6:10). Thế nhưng dạng nghèo tâm linh còn nguy hiểm hơn và đáng sợ hơn nhiều!

Rất khó phân định rạch ròi cái “khoảng” giàu – nghèo. Thật vậy, giàu có hay nghèo khổ còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa ƯỚC VỌNG và SỰ THỎA MÃN của mỗi người. Có người sống nghèo mà vẫn giàu (sang), có người sống giàu có mà vẫn nghèo (khổ). Riêng về lĩnh vực tâm linh, tất cả phàm nhân đều nghèo hèn trước mặt Thiên Chúa.

Sinh – tử không thể tách rời. Có câu chuyện “Cái Quan Tài” kể rằng: Ở một làng nọ có tục lệ mỗi người phải tự mua cho mình một cái quan tài để sử dụng khi nhắm mắt xuôi tay. Một hôm, có một ông lão nghèo nàn, ăn mặc rách rưới, đến trại hòm để mua quan tài. Ông lão nói với ông chủ:

– Tôi muốn mua một cái hòm.

Ông chủ trại hòm chau mày, nhăn nhó, và hỏi:

– Ở đây có 3 loại. Loại tốt nhất 100 quan tiền, loại thứ hai 50 quan tiền và loại rẻ nhất 10 quan tiền. Ông muốn mua loại nào?

Ông lão nghèo cẩn thận lấy ra từ trong áo một túi tiền. Ông đổ chúng lên sàn rồi đếm đi đếm lại. Sau đó, ông đưa mắt nhìn về phía ông chủ trại hòm:

– Cho tôi loại 10 quan tiền.

Ông chủ trại hòm nhìn ông lão với thái độ khinh dể, rồi hất hàm về phía người làm công:

– Ra phía sau trại, lấy rồi chở về nhà cho lão ấy!

Đúng lúc đó, một ông lão trông có vẻ giàu có cùng đi với hai tên hầu. Ông ta bước vào, lên giọng ngông nghênh:

– Chọn cho ta một cái hòm loại tốt nhất. Bao nhiêu tiền cũng được.

Ông chủ trại cúi chào rồi bảo:

– Thưa ngài, loại đắt nhất 100 quan ạ.

Ông lão giàu có quay sang nhìn ông lão nghèo với cặp mắt thương hại:

– Như ông chắc không có tiền mua loại đắt nhất rồi.

Ông lão nghèo vừa mỉm cười vừa điềm đạm nói:

– Thì ra NGƯỜI NGHÈO và NGƯỜI GIÀU khi chết cũng KHÁC NHAU, nhưng KHÁC NHAU chỉ 90 quan tiền.

Ông lão nghèo trả tiền rồi ra về cùng với cái hòm giá 10 quan tiền, trong khi lão nhà giàu và ông chủ trại vẫn đứng trơ ra vì cái triết lý sâu sắc của ông lão nghèo nàn kia.

Chuyện đời vẫn thường như thế. Giàu thì hay chảnh, nghèo mà còn chảnh thì đáng quan ngại hơn. Danh lợi và vật chất không thể mang xuống mồ, thế nên hãy cố gắng sống tốt và sống hữu ích. Giàu – nghèo hoặc sang – hèn gì thì khi nằm xuống cũng tay trắng, và chỉ cần ba thước đất.

Cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Đời người ngắn ngủi, và chẳng còn gì ngoài nắm tro, có còn chăng là lòng yêu thương nhân hậu vẫn lưu lại trong lòng người khác... Hơn – kém nhau là ở chỗ đó. Lựa chọn thái độ sống là chọn chỗ tốt cho mình trước mặt Thiên Chúa và trong lòng người đời khi mình vĩnh viễn ra đi...

Lạy Thiên Chúa, xin Ngài miễn cho con hai điều này thôi, và con sẽ không trốn để khỏi giáp mặt Ngài: Xin đừng để tay Ngài đè nặng lên con, và đừng làm con kinh hoàng sợ hãi (G 13:20-21). Con chỉ xin hai điều, Ngài đừng nỡ chối từ trước khi con nhắm mắt: Xin đẩy xa con lời dối trá và chuyện lọc lừa. Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: “Đức Chúa là ai vậy?”, hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con (Cn 30:7-9). Một lần Ngài phán dạy, con nghe được hai điều, rằng: Ngài nắm quyền uy và giàu lòng nhân hậu; rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người (Tv 62:12-13). Amen.

TRẦM THIÊN THU

ÁNH SÁNG CHIẾU TỎA NƠI NGHÈO

TỈNH THỨC MIỀN MÙA VỌNG CHỜ ĐỨC CHÚA

HÂN HOAN KHOẢNG GIÁNG SINH ĐÓN NGÔI LỜI

Sắc màu Mùa Vọng tím rịm chuyển sang màu sắc Giáng Sinh xanh biếc. Cuộc đời có nhiều thứ đối nghịch hoặc trái ngược – ánh sáng và bóng tối, giàu sang và nghèo khó. Và nhiều thứ khác… Chúng không thể hòa hợp. Thế nhưng ánh sáng luôn mạnh hơn bóng tối: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5); còn cái nghèo lại là mối phúc – “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3), và sự giàu có lại hóa mối lo – “Người giàu có khó vào Nước Trời” (Mt 19:23; Mc 10:23; Lc 18:24).

Chắc chắn bóng tối không thể ở nơi nào có ánh sáng – dù ánh sáng chỉ le lói. Khoảng tối đen phải lùi xa khi ánh bình minh chiếu soi. Bóng tội lỗi đen thui phải biến mất khi Ánh Sáng Giáng Sinh xuất hiện. Một thực tế minh nhiên. Vâng, thật hạnh phúc vì hôm nay sự sáng chiếu giãi trên mọi người – cả tín nhân và người vô thần: “Ngôi Lời là ÁNH SÁNG THẬT, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1:9). Con Thiên Chúa đã giáng sinh vì chúng ta và cho chúng ta, đó là tặng phẩm cao quý nhất được ban tặng cho nhân loại.

Đêm xưa, giữa bóng đêm thăm thẳm, trong hơi sương giá rét, Ánh Sao Lạ đã xuất hiện làm dấu chứng để các mục đồng nhận biết nơi sinh của Đấng Cứu Độ. Ngày nay, chúng ta cũng thực sự hạnh phúc vì có Ánh Sao Lạ dẫn đường là Ánh Sáng Đức Tin. Nhờ đó, chúng ta nhận biết Hài Nhi Giêsu chính là Con Thiên Chúa, Đấng hóa thành nhục thể để ở với chúng ta và cứu độ chúng ta. Chính Ngài là Ánh Sáng Cứu Độ dẫn chúng ta về với Thiên Chúa Cha, đúng như Ngài đã xác định rằng không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Ngài (Ga 14:6). Thánh Tử Giêsu là độc đạo dẫn tới Nước Trời.

Và giờ đây, ngày hôm nay, niềm hạnh phúc đó đang tràn ngập khắp thế giới, từ đất tới trời, và đầy tràn trong tâm hồn những người thành tâm thiện chí. Niềm vui cứ ngồn ngộn khôn tả!

Khắp mọi nơi, niềm vui sướng vỡ òa như cơn bão lớn, nhưng các tín nhân được giáo dục nhân bản theo phương pháp của Trường Học Thầy Giêsu nên không hành động lố bịch và phi văn hóa theo kiểu “đi bão” của đám dân Việt Nam nhố nhăng thích thể hiện “bản lĩnh tồi” của họ – cứ lo vô địch mà địch vô thì không lo!

Hân hoan khi Con Chúa giáng sinh là niềm vui lớn lao lắm, như ngôn sứ Isaia đã nói: “Đây là lời Đức Chúa loan truyền cho khắp cùng cõi đất: Hãy nói với thiếu nữ Sion: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới. Kìa phần thưởng của Người theo sát một bên, và thành tích đi ngay trước mặt. Chúng sẽ được gọi là dân-thánh, là những-người-được-Đức-Chúa-cứu-chuộc. Còn ngươi sẽ được gọi là cô-gái-đắt-chồng, là thành-không-bị-bỏ” (Is 62:11-12). Những người hạnh phúc đó chẳng ai xa lạ, bởi vì đó là chính chúng ta ngày nay. Thế thì làm sao chúng ta lại không vui sướng cho được. Thế nhưng có “điều lạ” là vào các dịp đại lễ của Công giáo – kể cả các cuộc hành hương, không bao giờ xảy ra điều bất trắc. Thiên Chúa luôn che chở những ai thành tín.

Nơi hang đá Belem hèn mọn và hôi tanh, nghèo quá đỗi, người ta thấy có một Hài Nhi nằm trên rơm, nhưng đó chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Emmanuel, Đấng ở cùng chúng nhân. Hãy tưng bừng thể hiện niềm vui đó và mời gọi muôn vật cùng đồng thanh tán dương: “Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!” (Tv 97:1). Chứng cớ không mơ hồ, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên: “Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người” (Tv 97:6). Không nhận ra Thiên Chúa qua vạn vật chỉ vì người ta cố chấp hoặc cố ý nhắm mắt làm ngơ mà thôi.

Và niềm vui cứ gia tăng, theo cấp số cộng rồi cấp số nhân, hạnh phúc trào dâng như triều cường giữa tháng: “Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay. Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng tưởng nhớ Thánh Danh mà dâng lời cảm tạ” (Tv 97:11-12). Vui mừng rồi phải biết tạ ơn. Rõ ràng tâm tình tạ ơn rất quan trọng, nhưng chúng ta lại thường quên – ưa phần trước, lướt phần sau. Niềm vui đó thấy rõ nét cả ở những người không tin Hài Nhi Giêsu là Con Thiên Chúa. Cuộc sống đời thường cho chúng ta thấy như vậy.

Niềm vui khởi đầu từ thuở ấu thơ, chính nhờ Ánh Sáng Đức Tin sáng soi từ khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta trở thành tín hữu – những người “có niềm tin”. Là tín hữu thì cũng có những bổn phận chung và riêng, đơn giản nhất là “sống đức tin” một cách cụ thể. Thánh Phaolô cho biết: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ LÒNG NHÂN HẬU và LÒNG YÊU THƯƠNG của Người đối với nhân loại. KHÔNG PHẢI VÌ TỰ SỨC MÌNH CHÚNG TA ĐÃ LÀM NÊN NHỮNG VIỆC CÔNG CHÍNH, nhưng VÌ NGƯỜI THƯƠNG XÓT, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3:4-6). Chúng ta đang là “không” hóa thành “có”. Thật kỳ diệu, và đó là Hồng Ân Thiên Chúa!

Trong tầm nhìn thế gian, có thể chúng ta làm được những việc mà người ta cho là tài giỏi, thế nhưng cũng chỉ là “số không to lớn” đối với Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không có lý do gì để mà vênh vang tự đắc hoặc kiêu ngạo. Nếu chúng ta có làm được điều gì hơn người khác thì cũng là nhờ ơn Chúa, có tài năng gì thì cũng là để phục vụ tha nhân, và luôn phải nhớ kỹ rằng “được nhiều thì bị đòi lại nhiều” (x. Mt 25:14-30; Lc 19:12-27). Đừng tưởng được nhiều thì sướng đâu đấy! Thánh Phaolô kết luận: “Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3:7). Sự ngu xuẩn và thói hợm hĩnh của phàm nhân rất nguy hiểm: “Sự khác biệt giữa thiên tài và kẻ ngu dốt là ở chỗ thiên tài luôn có giới hạn” (Albert Einstein, 1879-1955), và sự trái ngược tương tự: “Kẻ ngu dốt luôn cho mình là thông thái, nhưng người thông thái lại biết mình là ngu dốt” (William Shakespeare, 1564-1616).

Chỉ vài câu ngắn gọn, trình thuật Lc 2:15-20 đề cập các nhân chứng sống đầu tiên về sự kiện Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Đó là các mục đồng – những người nghèo khổ và hèn mọn trong xã hội. Chúa giáng sinh trong một đêm tối tăm và giá lạnh, cuộc sống của dân nghèo cũng tối tăm và đơn lạnh. Chúa đến, trời tối Belem bỗng chói sáng, và Ánh Sáng Tin Mừng cũng chiếu soi khoảng đời tối tăm của dân nghèo.

Trời khuya. Giá lạnh. Vắng vẻ. Tĩnh lặng. Tưởng tượng như thế cũng thấy run rồi. Trong hoàn cảnh như vậy, chắc chắn con nhà nghèo không thể có đủ quần áo để giữ ấm, thậm chí có thể cũng chẳng có đồ ăn cho no bụng chứ nói chi đồ ăn ngon, nhưng các mục đồng vẫn ngủ say sau một ngày rong ruổi khắp nơi, họ mệt mỏi vì phải theo giữ đàn súc vật, đường xa, đồi núi hiểm trở, và họ phải ngủ lại nơi hang động. Khi các mục đồng đang ngon giấc thì chợt tỉnh giấc vì đất trời khác thường, tiếng động và ánh sáng bao trùm, lại có các thiên thần xuất hiện, ngạc nhiên hơn là nghe nói về điều lạ. Các mục đồng đơn sơ và thật thà nên cũng dễ tin, nhưng không phải là họ tin vô cớ. Tất cả đều xác thực. Ngày nay, người ta càng tìm hiểu thì người ta càng kinh ngạc về sự thật kỳ diệu mà Kinh Thánh đã cho biết từ ngàn xưa.

Và rồi ngay sau khi các thiên thần từ biệt họ để về trời, các mục đồng liền bảo nhau: “Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2:15). Thế là họ liền kéo nhau đi, đi một cách hối hả lắm. Kinh Thánh dùng trạng từ “hối hả”, chứng tỏ họ đã tin nên mới đi ngay giữa đêm khuya, không so đo, không tính toán, không cần ngủ thêm nữa dù họ đang ngái ngủ vì dở giấc. Một bài học sống động về đức tin của các mục đồng – các nhân chứng thứ nhất. Điều đó khiến chúng ta phải tự xem lại đức tin của mình một cách nghiêm túc – đặc biệt là hôm nay và trong Mùa Giáng Sinh này.

Kinh Thánh không cho biết đường đi khoảng bao xa, nhưng các mục đồng đã đến đúng nơi có Ánh Sao Lạ tỏa sáng trên cao, họ trực tiếp gặp Hài Nhi nằm trong máng cỏ cùng với Cô Maria và Chú Giuse. Một gia đình quá nghèo, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “nghèo rớt mồng tơi”. Te tua tơi tả thấy thương! Thế nhưng họ không hề nghi ngờ, nghĩa là họ vẫn tin, và tin ngay lập tức chứ không hề do dự chút nào. Thế mới kỳ lạ! Giả sử là chúng ta, liệu chúng ta có đủ tin như vậy? Có lẽ chưa chắc. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta yêu tha nhân, yêu cả kẻ thù, và làm điều gì cũng là làm cho Chúa, thế nhưng mấy ai thực sự nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ và hèn mọn mà hằng ngày chúng ta gặp? Thật không dễ, khó lắm! Nhưng ánh mắt đức tin của Mẹ Teresa Calcutta thật “sáng”, bởi vì Mẹ căn dặn các nữ tu: “Hãy phục vụ những người nghèo NHƯ phục vụ Đức Giêsu Kitô”. Ôi, lạy Chúa!

Thật tuyệt vời, vì các mục đồng không chỉ là chứng nhân về Con Thiên Chúa giáng sinh, là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo, mà có thể nói rằng họ là những “thầy dạy” về Đức Tin đối với chúng ta. Họ nhãn tiền thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Biết Chúa rồi, họ không giữ cho riêng mình, mà họ chia sẻ Chúa với người khác. Đó là một cách sống đức ái.

Mà cũng thật lạ, khi nghe các mục đồng kể lại “chuyện lạ”, ai cũng ngạc nhiên, nhưng họ cũng tin ngay. Những người này cũng có Con Mắt Đức Tin kỳ diệu, họ tin lời các mục đồng thuật lại chứ không cho rằng các mục đồng thế này hoặc thế nọ, thường thì người ta không dám tin vì cho rằng dân nghèo ít học, dễ tin nhảm nhí, thế mà nghe kể thì họ tin, chứ không cần phải cân nhắc chi cả. Cả các mục đồng và những người nghe kể lại đều thấy lạ theo con mắt Đức Tin chứ không vì hiếu kỳ hoặc tò mò. Những bài học về Đức Tin thật đắt giá. Tất cả đều vô cùng lạ lùng!

Chưa hết, Thánh sử Luca còn cho biết thêm về “sự lạ” khác: “Còn Cô Maria thì hằng GHI NHỚ MỌI KỶ NIỆM ẤY, và SUY ĐI NGHĨ LẠI trong lòng”. Ghi nhớ và suy tư là hai động thái cần thiết, nhưng người ta lại thích hành động ngược lại. Im lặng và lắng nghe để Chúa Thánh Thần hành động, chứ không ba hoa chích chòe, nhiều chuyện như “bà Tám”. Một động thái không dễ chút nào!

Giả không thể thật, và thật không thể giả. Sự thật tỏ tường, các mục đồng ra về, vừa đi vừa TÔN VINH CA TỤNG THIÊN CHÚA, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được thiên thần nói cho họ biết. Cuộc đời nghèo khổ của họ đã khiến Thiên Chúa động lòng trắc ẩn mà ban cho họ niềm hạnh phúc khôn tả, những người khác không thể có được. Nghèo khó là nhân đức, là con đường dẫn tới Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót. Khoảng đời nghèo của họ không còn tối tăm nữa, mà từ nay hoàn toàn sáng sủa nhờ Ánh Sáng Chúa Giáng Sinh.

Vâng, từ đêm mầu nhiệm năm xưa đó, Ánh Sáng Giáng Sinh đã và đang chiếu tỏa khắp thế gian, vấn đề quan trọng là chúng ta vui mừng đón nhận hay lạnh lùng từ chối. Noël – Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Ngài chấp nhận nghèo khó để chúng con được hạnh phúc, xin giúp chúng con biết sống đúng tinh thần nghèo khó theo ý Ngài, xin giúp chúng con nhận ra Ngài hiện diện trong những con người hèn mọn giữa cuộc sống đời thường, đồng thời xin giúp chúng con biết mở rộng con tim và đôi tay để thực thi đức ái Ngài truyền dạy. Chúng con tạ ơn Ngài – Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Thánh Phụ, hiệp nhất với Thánh Linh, đến đời đời kiếp kiếp. Amen.

TRẦM THIÊN THU

MIỀN VỌNG – KHOẢNG SINH

Đêm ngày chờ đợi miệt mài

Miên man vọng Chúa Ngôi Hai giáng trần

Sửa sang, chấn chỉnh tâm hồn

Đón Ngài ngự đến viếng thăm, chữa lành

Hân hoan mừng Chúa giáng sinh

Hang-đá-lòng-thành lấp lánh tin yêu

Bên ngoài sáng những đèn sao

Bên trong có ánh tình nào sáng lên?

Bồi hồi miền vọng ngày đêm

Tưng bừng ngày Chúa giáng trần hiển vinh.

ĐẤNG NGÔI LỜI

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14a)

NGÔI Hai giáng thế làm người

HAI cõi đất – trời nối kết yêu thương

NHẬP vào cõi thế đời thường

THỂ nhân đón Chúa ở cùng ngày đêm

LÀM cho nhân loại vui thêm

NGƯỜI người biết Đấng nhân hiền quyền linh

THIÊN thần hợp xướng tôn vinh

CHÚA Trời ban phúc an bình mọi nơi

Ở đâu cũng thỏa mừng vui

CÙNG nhau nô nức dâng lời tạ ơn

CHÚNG con tội lỗi phàm hèn

NHÂN từ Đức Chúa vô ngần xót thương.

MỤC ĐỒNG

Chúng con là lũ mục đồng

Nghèo hèn, khốn khổ, đời buồn quanh năm

Sớm khuya bạn với đàn chiên

Chẳng ai làm bạn, vô duyên mục đồng

Nghe thần sứ báo Tin Mừng

Chúng con phấn khởi vô cùng, Chúa ơi!

Kiếp nghèo rơi rớt mồng tơi

Nhưng nên nhân chứng cho Ngài đầu tiên

Nhân vị, nhân phẩm chúng con

Được Con Thiên Chúa nâng lên giữa đời

Phận hèn dơ bẩn, tanh hôi

Bỗng được Ngôi Lời thánh hóa thơm tho

Giáng Sinh – hồng phúc bất ngờ

Nhân quyền khôi phục từ giờ Chúa sinh.

TRẦM THIÊN THU

ĐÊM CHÚA GIÁNG SINH

ĐẤNG THIÊN SAI GIÁNG SINH NẰM MÁNG CỎ.

VUA VŨ TRỤ CHUNG THẨM  NGỰ NGAI VÀNG.

Vi vu gió thổi qua đồi

Canh khuya lạnh lẽo tuyết rơi trắng ngần.

Chúa Con sinh xuống gian trần

Hang lừa máng cỏ,  chút thân đoạ đày.

Thiên thần lớp lớp xuống ngay,

Hợp cùng hai Đấng ngất ngây tôn thờ.

Mục đồng hoảng hốt như mơ,

Thoắt nghe  chạy tới, lòng ngơ ngẩn lòng…

Chiên lừa tai vẫy, mắt trông

Núi non, hang đá vui mừng lắc lư.

Chim muông bay lượn ca thơ.

Sao đêm lấp lánh đợi chờ sao Tua…

(Sao Tua chỉ dẫn Ba Vua

Tôn vinh Ấu Chúa, Ngài vừa giáng sinh.)

Đêm nay đêm của thanh bình

Đêm nay mở cửa Thiên Đình cho ai?

Hỡi người thiện chí ta ơi!

Lắng nghe tiếng Chúa từ nơi hang lừa…

MẦU NHIỆM CHÚA GIÁNG SINH

Đêm cực thánh: Đấng Thiên Sai nhập thể.

Vui ca  lên: Sinh Nhật Đấng CứuTinh !!!

Chúa Ngôi Hai từ cao thẳm Thiên Đình,

Thương nhân loại hiến mình làm Cứu Chúa.

Người thiện chí! Nhớ chăng lời Chúa hứa

Có nghe chăng tiếng hát của thiên thần?

Có nhìn vào hang đá cực thanh bần?

Hãy suy tưởng mầu nhiệm ơn Cứu Độ…

Thuở Cựu Ước, Tổ Tông ta phạm tội,

Chết đớn đau và sống cảnh lầm than.

Chúa xót thương tuyên hứa sẽ ủi an.

Bằng mọi cách hầu cứu nhân độ thế…

Thời Tân Ước, tiếng thiên thần mừng hát:

Đấng Thiên Sai nhập thể cứu nhân trần.

Tạo Hoá  dùng bản chất của muôn dân

Để  hoà giải muôn dân cùng Tạo Hoá.                            

Chúa Cứu Thế là Trung Tâm lịch sử,

 Trứoc Công Nguyên và thời sau Công nguyên,

 Đón Tin Mừng nhân loại không thể quên:

 Ơn Cứu Độ lưu truyền qua Giáo Hội.      

Người tín hữu cầu xin ơn bền vững,

Bạn lương dân tìm đến phúc trường sinh.

Người tự do suy về sự ứng linh,

Xin tất cả chung vui Đêm CựcThánh.

Noel! Noel!!!

Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan