VIỆC KÍNH HÀI CỐT CÁC THÁNH & CẦU CHO CÁC LINH HỒN CÓ TỪ BAO GIỜ?
Năm 2013 ĐTC Phanxicô cho trưng bày hài cốt Thánh Phêrô lần đầu tiên để các tín hữu kính viếng.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.
I./ KÍNH HÀI CỐT CÁC THÁNH
Tại nhiều nơi có thói hôn kính xương thánh vào dịp lễ kính vị thánh đó. Và đôi khi người ta còn trưng bày hài cốt các thánh trên bàn thờ. Tục lệ kính hài cốt các thánh có từ bao giờ? Có luật lệ gì về vấn đề này không?
Vấn đề tôn kính hài cốt các thánh tử đạo đã có một lịch sử lâu đời. Và trong phạm vi này, luật lệ của Giáo hội cũng không thiếu. Nói chung, thì luật được đặt ra không phải để bắt buộc các tín hữu phải tôn kính hài cốt các thánh, cho bằng để bài trừ những tệ đoan, hoặc phòng ngừa những lệch lạc. Chúng ta hãy đi ngược dòng lịch sử, để theo dõi tập tục cũng như là luật lệ của Giáo hội. Các Kitô hữu tiên khởi, cũng giống như các người Do thái và Rôma, có thói tục tôn kính thi hài người chết, theo nghĩa là họ không vứt bỏ thây ma người chết ở giữa trời cho chim muông thú rừng tới cắn xé, nhưng mà chôn cất tươm tất trong nghĩa trang. Vào những ngày giỗ, gia đình thân nhân tụ họp lại cạnh ngôi mộ để đọc kinh cầu nguyện. Tuy nhiên, đang khi mà đối với các người qua đời nói chung, thì các tín hữu tưởng nhớ đến họ và cầu nguyện cho họ; nhưng mà đối với các người chết vì đạo, thì các tín hữu lại có tâm tình và thái độ khác. Họ coi cái ngày mà các vị bị giết như là ngày sinh nhật, nghĩa là được sinh vào nước trời. Vì thế, ngày giỗ của các vị được tưởng nhớ không phải với tâm tình thương tiếc khóc lóc như kiểu các người quá cố khác, mà là như buổi lễ. Vào dịp đó, người ta đọc lại hạnh tích của các vị, cách riêng là cuộc tuẫn đạo của các vị. Dù sao, thì cũng nên biết là trong các thế kỷ đầu tiên, các Kitô hữu chưa được phép xây cất những nơi thờ tự. Vì thế, ngoài những buổi họp nhau ở tư gia để cầu nguyện, một địa điểm khác để gặp gỡ là ở ngoài nghĩa trang, trên mồ của các vị tử đạo. Nhà cầm quyền Rôma tôn trọng tính cách thánh thiêng của các nghĩa trang, cho nên họ làm ngơ cho các buổi phụng tự đó.
Như vậy là các Kitô hữu bày tỏ lòng tôn kính với các vị tử đạo, chứ đâu có gì liên can tới hài cốt của các ngài đâu?
Đúng như vậy. Như vừa nói, luật Rôma rất nghiêm ngặt đối với các nghĩa địa, coi như là nơi bất khả xâm phạm. Vì thế không ai được đụng tới các ngôi mộ của người chết và dĩ nhiên là không được đụng tới xác chết. Thế nhưng, từ thế kỷ IV trở đi, một khúc quặt đã xảy ra. Các Kitô hữu được tự do hành đạo. Các thánh đường được cất lên. Tìm địa điểm nào để cất? Nếu mà hỏi các Đức Giám mục hay các cha xứ ngày nay, thì chắc chắn chúng ta sẽ được trả lời là tìm chỗ nào thuận tiện cho bổn đạo tới dâng lễ, thí dụ ở trung tâm thành phố hay ở giữa làng. Thế nhưng, vào hồi thế kỷ IV thì người ta nghĩ khác. Bên thánh địa, thì người ta cất nhà thờ tại các nơi mà Chúa đã đi qua (thí dụ: Nadarét, Bêlem, vườn cây dầu, núi Golgôta, mộ Chúa vv). Còn ở Rôma, thì người ta cất nhà thờ tại những nơi mà các thánh tông đồ đã hy sinh vì đức tin. Đó là tiêu chuẩn để cất các đền thờ kính thánh Phêrô, Phaolô, Lôrenxô, cũng như hàng chục đền thờ khác tại Rôma. Người ta trù tính làm sao để cho bàn thờ được xây liền trên ngôi mộ của thánh tử đạo, để khi dâng Thánh lễ, chúng ta tưởng nhớ cuộc Tử nạn của đức Kitô cũng như những môn đệ đã đi theo chân của Ngài. Từ đó việc cất nhà thờ, hay bàn thờ trên mồ các thánh tử đạo trở thành một tiêu chuẩn được chấp nhận. Thế nhưng một vấn đề cụ thể được đặt ra. Có nơi thì có cả chục vị tử đạo được chôn tại một nghĩa trang. Có nơi thì chẳng có vị tử đạo nào hết. Vì vậy mà có chuyện phải cải hài cốt của các vị, hoặc là để tôn kính ở một chỗ xứng đáng hơn, hay là dành cho những thành phố nào muốn cất nhà thờ mà không có mộ của thánh tử đạo. Tóm lại, trong khi mà việc tôn kính các vị tử đạo đã có từ thời cổ, nhưng việc tôn kính hài cốt của các vị bắt đầu từ thế kỷ IV; hay muốn chính xác hơn, từ khi có những chuyện di chuyển hài cốt của các thánh tử đạo, mới có luật về vấn đề này.
Luật do Giáo hoàng ra hay là của các Công đồng?
Theo các sử gia, những luật đầu tiên là của Nhà nước. Bởi vì như đã nói trên đây, cổ luật Rôma rất nghiêm ngặt trong việc bảo vệ các nghĩa trang và thi hài người chết. Vì thế, bây giờ muốn đào mả để lấy hài cốt thì phải sửa lại pháp luật. Tiếp đó, mới tới luật của Giáo hội, nhằm tới nhiều phương diện: thí dụ, cần phải bảo đảm tính cách xác thực (bởi vì thời nào cũng có đồ giả mạo, kể cả xương thánh), và nhất là tránh những thứ dị đoan mê tín cũng như những chuyện buôn thần bán thánh. Trong lịch sử, có những công đồng sau đây đã ra những quy định cho vấn đề này: công đồng Lateranô IV (năm 1215), công đồng Trentô (khóa 25, năm 1563), và công đồng Vaticanô II, trong hiến chế về Hội thánh số 51; hiến chế về phụng vụ số 111; 125.
Những luật vừa nói chỉ liên can tới hài cốt của các thánh tử đạo mà thôi hay sao?
Vấn đề dần dần được mở rộng tới tất cả di tích của các thánh nữa. Trở lại lịch sử của Giáo hội, chúng ta thấy rằng tiếp theo các thánh tử đạo, lịch phụng vụ thêm danh sách các giám mục, tu sĩ nữa. Các tín hữu cũng bày tỏ lòng tôn kính với thi hài các vị ấy. Thế nhưng có lúc mà lòng ngưỡng mộ không phải chỉ dành cho đời sống đạo hạnh của các vị, nhưng mà lan rộng tới hết những gì có liên hệ xa gần tới các vị: từ thi hài, cho tới áo quần, giày dép, vật dụng, cho tới nhà ở, những nơi mà các vị hoạt động, vân vân. Thực ra, thì nguồn gốc của thói tục này có lẽ bắt đầu từ thánh địa; như vừa nói trên, từ thế kỷ IV, vào lúc mà tại Rôma người ta cất nhà thờ trên mồ các thánh tử đạo, thì bên thánh địa, người ta cất nhà thờ tại những chỗ mà Chúa Giêsu, Đức Mẹ đã sống: nhà ở, nơi làm việc, nơi biến hình, nhà tiệc ly, vân vân. Dĩ nhiên, người ta cũng cố gắng đào bới các di tích thánh, nổi bật nhất là cây thánh giá, rồi tới vòng gai, những cây đinh, khăn liệm, rồi tới máng cỏ. Chắc chắn rằng đầu óc tưởng tượng sẽ còn phịa ra nhiều thứ khác, thí dụ tấm tã mà Đức Mẹ đã vấn bọc, cái cưa và dùi đục của thánh Giuse… Đại khái, thì lập luận bình dân cho rằng những gì mà Chúa, Đức Mẹ và các thánh đã đụng chạm tới thì cũng được lây cái chất thánh sang. Không nói ai cũng thể đoán được, cái lập luận đó mang theo nhiều hệ luận thực hành không nhỏ. Vì vậy, mà các nhà chức trách trong Giáo hội đã phải can thiệp dưới tựa đề chung là “di tích của các thánh” (de reliquiis sanctorum).
Những điểm chính mà giáo quyền muốn lưu ý trong vấn đề này không?
Chúng ta có thể phân biệt ba khía cạnh: tín lý, phụng vụ và kỷ luật.
1) Về tín lý, các công đồng không ngừng nhắc nhở rằng hết mọi thứ tôn kính đều phải nhằm tới Thiên Chúa, nguyên ủy của mọi sự trọn lành thánh thiện. Khi tôn kính các thánh, chúng ta ca ngợi công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi những con người mỏng dòn. Thứ đến, sự tôn kính các di tích của các thánh phải đưa chúng ta tới chỗ ái mộ bắt chước các vị chứ không nên coi đó như là cái bùa chú. Một thí dụ cụ thể: mục đích tôi đặt di ảnh của mẹ tôi là để nhắc nhớ tôi tới công ơn sinh dưỡng của bà; chứ nếu mà tôi chỉ ôm chặt và suốt ngày hôn hít cái bức hình và tấm khảm thì sớm muộn gì cũng có người sẽ đưa tôi vào bệnh viện tâm thần.
2) Từ những nguyên tắc về tín lý, phụng vụ đã đặt ra những tiêu chuẩn trong việc tôn kính, cách riêng khi có tính cách công khai. Phải làm cách nào để làm nêu bật sự tôn thờ tuyệt đối dành cho Thiên Chúa, và sự cung kính dành cho các tôi tớ của Chúa. Do đó mà trong cách bày biện các di tích của các thánh, chúng ta không thể đặt ngang hàng bên cạnh Mình Thánh Chúa hay Thập giá của Chúa. Cũng vậy, cũng phải trưng bày thế nào để cho người ngoài Công giáo khi vào nhà thờ sẽ không choáng váng trước một rừng các hình tượng và di tích của các thánh: họ sẽ có cảm tưởng là lạc vào một đền đa thần!
3) Sau cùng, về khía cạnh kỷ luật, cần phải kiểm chứng về tính cách xác thực của các di tích đó. Như chúng ta đã biết, vô tình hay hữu ý, không thiếu người lạm dụng sự dễ tin để bịa ra các di tích của các thánh. Một điểm nữa về kỷ luật liên hệ tới vấn đề mua bán các di tích này, vừa lo tránh chuyện mua đồ giả, lại vừa lo tránh chuyện buôn thần bán thánh! Bộ giáo luật hiện hành chứa đựng rất ít điều khoản về vấn đề này (đ.1186-1190). Bởi vậy, chúng ta cần phải quy chiếu tới các luật lệ của Toà thánh (cách riêng là Bộ phong thánh và bộ phụng tự) và của Bản quyền địa phương.
II. Khi nào buộc phải đọc Kinh Cầu Các Thánh?
Ngày 01/11 là lễ kính các thánh nam nữ. Phụng vụ có buộc phải đọc kinh cầu các thánh vào lễ này không, tựa như đọc kinh cầu Đức Bà và kinh cầu thánh Giuse vào dịp lễ của các vị ấy?
Thiết tưởng nên xác định cho rõ: Phụng vụ không buộc phải đọc kinh cầu Đức Bà hoặc kinh cầu thánh Giuse vào dịp lễ kính các ngài. Điều đó để tùy thuộc lòng đạo đức của cá nhân hoặc của cộng đoàn thôi. Một cách tương tự như vậy, lễ kính các thánh hôm nay là cơ hội thích hợp để đọc kinh cầu các thánh, nhưng phụng vụ không buộc.
Có lúc nào buộc phải đọc kinh cầu các thánh không?
Có nhiều trường hợp. Theo các sử gia, chứng từ cổ điển nhất về kinh cầu các thánh trong phụng vụ Rôma là vào thời thánh giáo hoàng Grêgôriô Cả: các tín hữu kêu cầu các thánh đang khi đi kiệu để cầu xin cho khỏi bệnh dịch năm 590, và về sau được hát vào ngày 25 tháng 4 để cầu cho mùa màng. Có lẽ vì phải hát trong suốt cuộc rước kiệu dài, cho nên kinh cầu các thánh dài nhất trong số các kinh cầu. Dần dần, kinh cầu các thánh cũng được đọc trong dịp lãnh nhận các bí tích rửa tội cho người lớn và truyền chức thánh. Theo đà đó, người ta cũng đọc kinh cầu các thánh vào dịp khấn dòng, và gần đây bên Italia, kể cả trong lễ hôn phối nữa.
Như vậy kinh cầu các thánh dài nhất và xưa nhất trong các kinh cầu phải không?
Kinh cầu các thánh được coi là xưa nhất theo nghĩa là có trước các kinh cầu khác và trở thành khuôn mẫu cho các kinh cầu (điển hình là kinh cầu Đức Bà). Tuy nhiên trải qua thời gian, đã có nhiều mẫu thức được soạn ra. Vào thế kỷ IX, mẫu thức của vua Ludovicus Germanicus gồm 532 thánh (277 tử đạo, 153 hiển tu, 102 đồng trinh). Mẫu thức hiện hành được dùng trong phụng vụ do Bộ phụng tự ban hành năm 1969 (nghĩa là cách đây 52 năm) cùng với việc cải cách lịch phụng vụ, dựa theo các chỉ thị mà công đồng Vaticanô II đã đề ra (ở số 111 của Hiến chế về phụng vụ). Một vài tiêu chuẩn đã được đặt ra trong việc duyệt lại kinh cầu các thánh là:
1/ loại bỏ những trùng hợp (nghĩa là những sự lặp lại lời cầu hoặc ngay trong kinh cầu, hoặc khi đọc kinh cầu trong Thánh lễ; vì thế khi đã đọc kinh cầu các thánh thì bỏ lời nguyện giáo dân);
2/ duyệt lại danh mục các thánh (loại bỏ những thánh mà lịch sử không chính xác, chẳng hạn như hai thánh tử đạo Gioan và Phaolô, Giêvaxiô và Phôtaxiô, Nicôla); thêm vào những vị thánh thuộc các châu Á, Phi, Mỹ, Úc để biểu lộ tính cách hoàn vũ của Hội thánh; ngoài ra danh sách các vị thánh cũng mang tính cách uyển chuyển: có thể thêm tên thánh của các thánh thuộc về địa phương, dòng tu, hoặc thánh bổn mạng tùy theo trường hợp;
3/ loại bỏ hoặc sửa đổi những lời cầu khẩn không còn thích hợp với thời đại (chẳng hạn: “Xin Chúa chữa chúng con cho khỏi tai ương đất động”, “Xin Chúa hạ kẻ làm nghịch cùng Hội thánh xuống”, “Xin Chúa cho các kẻ lầm lạc trở về cùng một Hội thánh và đem các người ngoại giáo vào đạo thánh Đức Chúa Giêsu);
4/ tính cách uyển chuyển, theo nghĩa là có thể thêm bớt các vị thánh tùy theo hoàn cảnh, cũng như thêm bớt các ý chỉ cầu cho các nhu cầu tùy nơi tùy thời. Trong tinh thần đó, bộ phụng tự cũng soạn ra ba mẫu khác nhau của Kinh cầu các thánh.
– Mẫu một dài nhất, dành cho những lần cầu khẩn trọng thể (litaniae in sollemnibus supplicationibus adhibendae) đặc biệt vào dịp đi kiệu cầu mùa, hoặc những buổi rước kiệu trong mùa Chay.
– Mẫu thứ hai gọn hơn (pro ritibus in quibus consecrationes et sollemnes benedictiones), được dùng trong nghi thức ban bí tích khai tâm đêm Vọng phục sinh, và các nghi thức thánh hiến (chẳng hạn lễ truyền chức, khấn dòng, thánh hiến trinh nữ, hôn phối).
– Mẫu thứ ba ngắn hơn cả, được dùng trong nghi thức phó linh hồn của người mới qua đời. (Thành thực mà nói, còn một mẫu ngắn hơn nữa, đó là trong nghi thức rửa tội các nhi đồng, chỉ gồm có 5 lời cầu).
Cấu trúc của kinh cầu các thánh như thế nào?
Cấu trúc rõ nét nhất của Kinh cầu các thánh được nhận thấy nơi mẫu thứ nhất. Kinh cầu được chia thành 4 phần: 1/ Van xin Thiên Chúa (supplicatio ad Deum), 2/ Kêu cầu các thánh (invocatio sanctorum), 3/ Kêu cầu Chúa Kitô (invocatio ad Christum), 4/ Van xin cho những nhu cầu khác nhau (supplicatio pro diversis necessitatibus).
Phần thứ nhất (nghĩa là mở đầu), gồm hai công thức tùy ý lựa chọn. (a) “Xin Chúa thương xót chúng con, xin Chúa Kitô thương xót chúng con, Xin Chúa thương xót chung con” hoặc (b): “Đức Chúa Cha ngự trên trời, Đức Chúa Con chuộc tội cứu thế, Đức Chúa Thánh Thần, v.v. thương xót chúng con”.
Phần thứ hai là “kêu cầu các thánh” được phân làm bảy nhóm. Đứng đầu là Đức Trinh nữ Maria rồi đến ba tổng thiên thần và kết thúc với “tất cả các thánh thiên thần”. Nhóm thứ hai là các thánh tổ phụ và ngôn sứ (Abraham, Môsê, Elia, Gioan Tẩy giả, Giuse, các thánh tổ phụ và ngôn sứ), Nhóm thứ ba gồm các thánh tông đồ và môn đệ (Phêrô và Phaolô, Anrê, Gioan và Giacôbê, Tôma, Matthêu, tất cả các thánh tông đồ; Luca, Marcô, Barnaba, Maria Mađalêna, tất cả các thánh môn đệ của Chúa). Nhóm thứ tư gồm các thánh tử đạo (Stêphanô, Ignaxiô Antiokia, Polycarpô, Giustinô, Laurensô, Cyprianô, Bonifaxiô, Tôma Becket, Gioan Fisher và Tôma More, Phaolô Miki, Isaac Jogues và Gioan Brébeuf, Phêrô Chanel, Carôlô Lwanga, Perpetua và Felicita, Agnes, Maria Goretti). Chúng ta thấy sự hiện của các vị tử đạo tại Nhật, Canada, Đại dương châu và Uganda. Nhóm thứ năm gồm các thánh giám mục và tiến sĩ (Lêô và Grêgôriô, Ambrôsiô, Hierônimô, Augustinô, Athanasiô, Gioan Kim khẩu, Martinô, Patrixiô, Cyrillô và Mêtôđiô, Carlô Borrômêô, Phanxicô de Sales, Piô X). Nhóm thứ sáu là các thánh linh mục và tu sĩ (Antôn, Bênêđictô, Bênađô, Phanxicô và Đaminh, Tôma Aquinô, Ignaxiô Loyola, Phanxicô Xavie, Vinhsơn Phaolô, Gioan Maria Vianney, Gioan Boscô, Catarina Siena, Têrêsa Giêsu, Rosa Lima). Sau cùng là các thánh giáo dân (Luy, Monica, Elizabeth Hungari), và lời cầu: “tất cả các thánh nam nữ của Thiên Chúa”, kết thúc phần thứ hai.
Phần thứ ba mang tiêu đề là Kêu cầu Đức Kitô: Xin Chúa cứu chữa (giải thoát) chúng con: khỏi mọi sự dữ, khỏi mọi tội lỗi, khỏi những mưu chước ma quỉ, khỏi giận dữ hận thù và ác ý, khỏi án chết đời đời. Vì mầu nhiệm Chúa nhập thể, giáng sinh, lãnh phép rửa và chay tịnh, thập giá và khổ nạn, cái chết và mai táng, sự sống lại và lên trời hiển vinh, trút ban Thánh Thần, quang lâm.
Phần thứ bốn là những lời van xin cho các nhu cầu khác nhau, cộng đoàn đáp lại “Xin Chúa nghe cho chúng con” tiếp theo những ý nguyện xin Chúa tha thứ tội lỗi, ban cho chúng ta được thành tâm thống hối, cho chúng ta kiên tâm phụng sự Chúa, trả ơn cho các ân nhân, cho đất đai mang lại hoa trái dồi dào, xin cai quản và giữ gìn Hội thánh, xin trợ giúp đức thánh cha và các giáo sĩ trong tác vụ của mình, xin cho tất cả mọi Kitô hữu được hợp nhất, xin dẫn dắt tất cả mọi người đến ánh sáng Tin mừng. Sau cùng là phần kết luận.
Thời Trung cổ, danh sách các thánh trong kinh cầu lên đến hơn 500 vị. Còn bản kinh hiện hành thì sao?
Con số các thánh không cố định, bởi vì có thể tăng thêm hoặc giảm bớt tùy hoàn cảnh. Điều quan trọng là phải tôn trọng thứ tự hàng ngũ các thánh, đó là: tông đồ, tử đạo, giám mục, linh mục tu sĩ, giáo dân. Trong mỗi hàng ngũ, tôn trọng thứ tự thời gian tuổi tác. Vì thế ở Việt Nam nếu muốn thêm các thánh tử đạo vì phải xen vào hàng ngũ tử đạo, nghĩa là trước các thánh hiển tu, chứ không phải ở cuối sổ. Ta có thể thấy một thí dụ về sự thích nghi nơi mẫu số 2. Danh sách các thánh đã được rút ngắn vào 25 vị thánh: Micae, Gioan Tẩy giả, Giuse, Phêrô và Phaolô, Anrê, Gioan, Maria Mađalêna, Stêphanô, Ignaxiô Antiôkia, Lorensô, Perpetua và Felicita, Agnes, Grêgôriô, Augustinô, Athanasiô, Basiliô, Martinô, Bênêđictô, Phanxicô và Đaminh, Phanxicô Xavier, Catarina Siena, Têrêsa Giêsu. Trong nghi thức tấn phong giám mục, danh tánh tất cả các thánh tông đồ đều được xướng lên theo thứ tự như sau: Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê, Tôma, Giacôbê, Philipphê, Bartôlômêô, Simon, Tađêô, Matthia. Trong lễ phong chức linh mục thì không thêm vị nào khác, nhưng trong lễ phong chức phó tế thì thêm hai thánh Vincentê (đi sau thánh Lorensô) và thánh Ephrem (theo sau thánh Basiliô). Trong lễ khấn trọn đời của các tu sĩ thì bỏ cac thánh Inhaxiô Antiôkia, Grêgôriô, Atanasiô, Martinô, Phanxicô Xavier, Gioan Maria Vianney, và nếu là nam tu sĩ thì thêm Bênađô, Ignaxiô Loyola, Vinh sơn Phaolô, Gioan Boscô, còn lễ khấn các nữ tu thì thêm các thánh nữ Macrina, Clara, Catarina Siena, Rosa Lima, Gioanna Francisca de Chantal, Louise Marillac. Dĩ nhiên là có thể thêm các thánh riêng của dòng. Trong nghi lễ chúc phong viện phụ, thì bỏ tên thánh Catarina Siena, và thêm các thánh Columbanô, Bêđa, Romualđô, Brunô, Bênađô, hai thánh nữ Scolastica và Clara. Nên biết là các lời khẩn nguyện cho các nhu cầu trong các dịp truyền chức, khấn dòng cũng được thích nghi theo hoàn cảnh. Tuy nhiên, có lẽ điều gây ấn tượng cho cộng đoàn là thấy các ứng sinh nằm phủ phục dưới đất, và xin sự chuyển cầu của các thánh nhân trên trời cũng như các anh chị em thuộc cùng Hội Thánh lữ hành.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.
Phụng vụ dành ngày 02 tháng 11 để kính các linh hồn. Nguồn gốc lễ này bắt đầu từ đâu? Nó có giống với lễ Vu lan trong Phật giáo không?
Như đã biết, lễ Vu lan được cử hành vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là Tết Trung nguyên. Có lẽ lễ này không bắt nguồn từ Phật giáo, nhưng từ phong tục dân gian. Dù sao, trọng tâm của niềm tin ngày rằm tháng bảy âm lịch là “xá tội vong nhân”: vào ngày này, các tội nhân dưới âm phủ được giải thoát. Thân nhân những người mới qua đời tổ chức lễ cầu siêu. Nguồn gốc của lễ các linh hồn bên Công giáo thì khác, với nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau. Ta có thể lấy một mốc điểm lịch sử là ngày 02 tháng 11 năm 998, để từ đó theo dõi sự tiến triển khi đi ngược hay đi xuôi.
Tại sao lấy ngày 02 tháng 11 năm 998 làm mốc điểm?
Tại vì theo lịch sử, thánh Ôđilon, viện phụ thứ năm của đan viện Cluny dòng Biển đức đã ấn định dành ngày 02 tháng 11 (nghĩa là ngày hôm sau lễ kính các thánh) để cầu nguyện cho tất cả các tín hữu đã qua đời, qua việc dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện và làm việc bác ái.
Tại sao chọn ngày 02 tháng 11?
Như vừa nói, cha Ôđilon chọn ngày 02 tháng 11 bởi vì liền kế ngày 01 tháng 11. Vào ngày này, phụng vụ mừng lễ kính tất cả các thánh, nghĩa là các tín hữu đã lìa đời và đang được hưởng hạnh phúc ở bên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bên cạnh các phúc nhân, còn có những tín hữu khác đang trải qua cuộc thanh luyện. Vì thế, chúng ta cũng hãy nhớ cầu nguyện cho họ.
Đây là một tư tưởng do cha Ôđilon gợi ra phải không?
Chúng ta cần phân biệt nhiều khía cạnh: việc dành ngày 02 tháng 11 để cầu cho tất cả những người qua đời là sáng kiến của cha Ôđilon. Nhưng việc cầu nguyện cho những người đã qua đời thì đã có từ lâu rồi, mãi từ cuối thời Cựu ước, như chúng ta đọc thấy chứng tích trong sách Macabê, quyển hai, chương 12, khi ông Macabê quyên tiền gửi về đền thờ Giêrusalem để cầu nguyện cho các tử sĩ. Trong Tân ước, ta cũng thấy thánh Phaolô khuyên ông Timôthêô hãy cầu nguyện cho Onêsiphorô, một cộng tác viên với thánh Tông đồ tại Êphêsô (2 Tm 1,16-18). Dĩ nhiên, tập tục này được duy trì trong suốt lịch sử của Hội Thánh. Còn việc dành một ngày trong năm phụng vụ để cầu cho tất cả các linh hồn thì cũng đã có trước cha Ôđilon từ ba thế kỷ.
Tại sao phải cầu nguyện cho những người qua đời?
Việc tưởng nhớ những người qua đời được gặp thấy nơi nhiều dân tộc, với nhiều ý nghĩa khác nhau. Có khi việc tưởng nhớ người quá cố là dịp để thân quyến gặp gỡ nhau, để ôn lại công đức tiền nhân, bày tỏ lòng tri ân ngưỡng mộ, đồng thời khuyến khích nâng đỡ nhau trên đường đời. Có nơi thì tin rằng hương hồn của tổ tiên vẫn còn hiện diện với con cháu, vì thế họ được mời đến tham dự những biến cố quan trọng của gia đình, cũng giống như lúc sinh tiền. Có nơi tổ chức cúng giỗ để cung cấp lương thực và đồ dùng cho người quá cố, bởi vì người ta tin rằng những người bên kia thế giới cũng có nhưng nhu cầu và sinh hoạt giống như ở đời này. Có nơi thì tổ chức lễ cầu siêu, xin cho các linh hồn còn bị giam ở địa ngục được giải thoát. Dĩ nhiên, không phải tất cả các quan niệm này đều phù hợp với đức tin Kitô giáo.
Thế thì các Kitô hữu cầu nguyện cho các người qua đời để làm gì?
Trong việc cầu nguyện cho những người qua đời, có khá nhiều động lực khác nhau. Trước hết, chúng ta không thể nào bỏ qua khía cạnh tâm lý: những buổi cầu nguyện bên cạnh quan tài người chết hoặc vào dịp giỗ giáp tháng giáp năm nhằm bày tỏ sự thương tiếc người đã qua đi. Thế nhưng bên cạnh động lực tâm lý, dần dần đức tin Kitô giáo đã mang đến nhiều động lực mới. Ngay từ những lá thư đầu tiên (tựa như thứ thứ nhất gửi các tín hữu Thêxalônica, chương 4, câu 13), thánh Phaolô đã nhắc nhở các tín hữu đừng buồn rầu như những kẻ thiếu niềm hy vọng. Thực vậy, đối với người tín hữu, cái chết không phải là sự tận diệt của cuộc sống, mà chỉ là ngưỡng cửa bước sang cuộc sống vĩnh cửu. Vì thế, các tín hữu tiên khởi gọi ngày qua đời là “sinh nhật” (dies natalis), bởi vì họ được sinh vào cuộc sống mới. Điều này được áp dụng đặc biệt cho những vị tử đạo. Không lạ gì mà vào ngày giáp năm ngày tử đạo, các tín hữu họp nhau lại để đọc hạnh tích của vị tử đạo, không những để khuyến khích nhau bắt chước tấm gương can đảm, nhưng nhất là để tạ ơn Chúa vì đã cho một tín hữu được hoà đồng với Đức Kitô. Nói cách khác, việc mừng các vị tử đạo được liên kết với Thánh lễ, tức là lễ hy sinh của Đức Kitô. Các vị tử đạo là những người đã đi theo sát với Thay mình trên đường thập giá, cho nên chắc chắn họ cũng được thông dự vào sự phục sinh với Người.
Nhưng mà đâu phải tất cả các tín hữu đều tử vì đạo?
Đúng rồi. Khi kính nhớ các vị tử đạo, các tín hữu xác tín rằng các ngài đang được hưởng vinh quang với Chúa rồi. Đó là buổi cử hành vui tươi. Thế nhưng không phải tất cả các tín hữu đều chết vì đạo. Nói cách khác, không phải tất cả các tín hữu sau khi qua đời đều nắm chắc sẽ được hưởng vinh quang với Chúa. Vì thế, những người qua đời cần được Hội thánh cầu nguyện để được thanh luyện khỏi tội lỗi, như chúng ta thấy phản ánh nơi đoạn văn trích từ sách Macabê quyển 2 chương 12 đã nhắc đến trên đây. Chúng ta chỉ cần trưng dẫn một chứng tích thì đủ rõ. Trong sách Tuyên xưng (Confessiones hay Tự thuật), thánh Augustinô kể lại lời trối trăn của thân mẫu Monica rằng: “Các con có thể chôn xác mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ xin các con một điều là dù các con ở đâu, thì hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa”. Câu nói này phản ánh một tập tục đã có từ lâu đời, đó là cầu nguyện cho các người qua đời trong khi dâng Thánh lễ. Thánh lễ là nơi mà các tín hữu sống cao độ tín điều về sự “thông hiệp các thánh”. Thực vậy, không những các tín hữu thông hiệp vào Mình và Máu của Chúa Kitô, nhưng còn thông hiệp với Nhiệm thể của Chúa là Hội thánh. Các Kinh nguyện Thánh Thể đều nhắc đến sự thông hiệp với Đức Maria, các thánh, các phúc nhân, và tất cả những ai đã ly trần. Sự tưởng nhớ này không những chỉ tuyên xưng rằng các người qua đời vẫn còn sống (chứ không bị hủy diệt ra tro bụi), nhưng con cầu xin Chúa nhân lành thương xóa bỏ những thiếu sót của họ. Dĩ nhiên, không phải chỉ chúng ta (những người còn sống) chuyển cầu cho các người qua đời, nhưng là cả Hội thánh (nghĩa là kể cả Đức Kitô, Đức Maria và các phúc nhân) đều liên đới chuyển cầu cho các linh hồn. Ngoài việc cử hành Thánh lễ, Hội thánh cũng cầu nguyện cho các người qua đời bằng những kinh nguyện khác, cũng như bằng các công tác bác ái.
Việc cầu nguyện cho người qua đời đã có từ Cựu ước, còn việc dành một ngày để cầu cho tất cả những người qua đời thì mới chỉ thành hình từ thế kỷ VII. Lai lịch tục lệ này như thế nào?
Trên đây, chúng ta nhắc đến lễ Trung nguyên, một ngày mà tục lệ dân gian ở Á đông cầu siêu cho các vong nhân. Ở Rôma thời cổ, cũng có một ngày cầu siêu như vậy, vào ngày 22 tháng hai dương lịch (nghĩa là vào ngày cuối năm theo lịch cổ Rôma). Không lạ gì mà nhiều nơi trong Giáo hội công giáo cũng muốn dành ra một ngày để cầu nguyện cho tất cả các người qua đời. Chứng tích cổ nhất là bản luật các đan sĩ của thánh Isiđorô Sevilla bên Tây ban nha (+636), truyền dâng Thánh lễ cho tất cả các người qua đời vào ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Vào các thế kỷ sau đó, người ta thấy tại nhiều đan viện tại Đức, Pháp, Ý, chỉ định một ngày trong năm để cầu cho hết các linh hồn, tuy không trùng ngày như nhau. Với cha Ôđilon, thì ngày này được ấn định sau lễ kính các thánh. Nhờ uy tín của các đan viện Cluny, tục lệ này sớm lan tràn khắp châu Âu từ thế kỷ XI.
Tục lệ mỗi linh mục dâng ba thánh lễ nhân ngày kính các linh hồn cũng bắt đầu từ thánh Ođilôn, phải không?
Không phải, tập tục này ra đời muộn hơn, bắt đầu từ cuối thế kỷ XV với các cha Dòng Đaminh ở Valencia (Tây ban nha). Đức Bênêđictô XIV năm 1748 châu phê tập tục này và nới rộng cho tất cả các linh mục bên Tây ban nha, Bồ đào nha, châu Mỹ la-tinh. Mãi đến năm 1915, Đức Bênêđictô XV mới nới rộng ra toàn thể Hội Thánh. Dù sao, nên biết là Hội Thánh không chỉ dành mỗi năm một ngày để tưởng nhớ các người đã qua đời. Nhiều tu viện và giáo xứ vẫn có thói quen cầu nguyện cho các linh hồn mỗi ngày, hay ít là mỗi tuần vào ngày thứ hai.
Tại sao dành ngày thứ hai để cầu nguyện cho các linh hồn?
Nguồn gốc tục lệ này là một quan điểm hơi kỳ quặc vào thời Trung cổ. Người ta cho rằng các linh hồn ở luyện ngục được xả hơi vào Chúa nhật để mừng Chúa Phục sinh, và qua ngày thứ hai, lại phải tiếp tục lao động. Vì thế, chúng ta nên giúp cho họ một tay. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể cầu nguyện cho các linh hồn vào bất cứ ngày nào mà không cần đếm xỉa đến tập tục đó.
II. CÓ NGHI THỨC PHỤNG VỤ CHO VIỆC HỎA TÁNG KHÔNG?
Tháng 11 dương lịch được dành để kính nhớ các người qua đời. Bên cạnh việc đọc kinh cầu nguyện cho họ, các tín hữu còn đi thăm viếng nghĩa trang. Thế nhưng trong những năm gần đây, tục lệ đó đã giảm bớt, không phải chỉ vì người ta quá bận bịu với công ăn việc làm đến nỗi không còn thời giờ tưởng niệm người chết, nhưng còn vì tại vài quốc gia, người ta muốn dẹp bỏ các nghĩa trang. Thi hài người chết bị hỏa thiêu ra tro, chứ không còn được chôn cất nữa. Theo họ, biện pháp này giải quyết vấn đề khan hiếm đất đai thành phố cũng như vấn đề ô nhiễm môi sinh. Thái độ của Giáo hội đối với vấn đề hỏa táng như thế nào? Có nghi thức phụng vụ nào dành cho việc hỏa táng không?
Trong lịch sử nhân loaị, tục lệ hỏa táng không phải là điều mới lạ. Thậm chí, đôi khi nó gắn liền với một nền văn hóa hay với một tôn giáo nữa. Chúng ta có thể lấy nước Ấn độ làm thí dụ, nơi mà tục lệ hỏa táng đã có từ lâu đời, tuy rằng khó nói rằng việc hỏa táng có nhất thiết gắn liền với thuyết luân hồi hay không. Thế nhưng, khi bước sang truyền thống của người Do thái, thì chúng ta thấy ngược lại. Từ những tác phẩm cổ điển của Kinh thánh, chúng ta đã thấy họ chôn cất người chết chứ không hỏa thiêu, tuy dù vào thời cổ, người Do thái chưa có quan niệm rõ rệt về số phận con người bên kia thế giới. Vào cổ thời, người Do thái tin rằng sau khi chết, con người dù tốt dù xấu đều phải xuống dưới cõi âm ti, với cuộc sống thoi thóp, không biết có đáng gọi là sống hay không nữa. Dù sao, vào thời của đức Kitô, tục lệ chôn cất người chết đã thành phổ thông ở Palestina. Theo Phúc âm, chúng ta được biết rằng sau khi đã Ngài đã chết, thì các môn đệ đã hạ xác Ngài khỏi thập giá và mai táng trong huyệt đá; nhưng vào ngày thứ ba, khi ra thăm viếng mộ thì các môn đệ thấy nó đã trống rỗng, bởi vì Ngài đã sống lại. Sau đó, các Kitô hữu, dù là gốc Do thái hay gốc từ các dân tộc khác, đã duy trì việc mai táng người chết, một đàng có lẽ vì muốn bắt chước việc táng xác Thầy của mình, và đàng khác cũng muốn biểu lộ niềm tin vào việc thân xác sống lại theo lời Chúa hứa.
Tuy nhiên, việc an táng người chết có thực sự gắn liền với lòng tin Kitô giáo, hay chỉ là một tục lệ văn hóa của một vài dân tộc hay vài thời đại?
Như đã nói trên đây, người Kitô hữu không có bày ra việc an táng người chết, nhưng họ đã lấy lại tục lệ của người Do thái. Đến khi bước sang vùng văn hóa Hy-lạp La mã, thì chúng ta cũng thấy người dân tại đây chôn cất người chết chứ không có hỏa táng như là bên Ấn độ. Nói như thế không có nghĩa là các Kitô hữu chấp nhận một thói tục thường tình. Lắm lúc họ đã phải phấn đấu để duy trì một điều mà họ cho là có liên hệ tới niềm tin. Vấn đề này được đặt ra trong trong thời kỳ các Kitô hữu bị bách hại trong Đế quốc Rôma. Một số tín hữu đã bị kết án tử hình vì đã không tuân hành luật lệ của Hoàng đế. Chiếu theo hình luật, các tử tội không được an táng, nhưng thây của họ phải bị phơi giữa trời trong vòng 6 ngày rồi sau đó bị đốt ra tro. Các tín hữu đã tìm hết cách, không để cho thi hài các vị tử đạo phải chịu cảnh đó. Có khi thì họ lén lút lấy trộm xác vào ban đêm để về mai táng; có khi thì họ đút lót cho binh sĩ để chuộc xác về. Dĩ nhiên, có người sẽ nói rằng đó là do lòng nhiệt thành tôn kính các vị tử đạo. Dù vậy, phải nhận rằng còn có động lực khác nữa khiến cho các Kitô hữu không muốn thấy thi hài bị thiêu đốt. Đó cũng là lý do vì sao các Kitô hữu tại Rôma cũng như tại các nơi khác đã tậu đất để lập nghĩa trang riêng. Nên biết là trong tiếng La-tinh “nghĩa trang” được gọi là “coemeterium”, gốc bởi tiếng Hy-lạp “coimeterion”: nơi an nghỉ, chờ ngày phục sinh. Các tín hữu năng lui tới các nghĩa trang này, được coi là “đất thánh”, không những là để tưởng nhớ người chết mà còn để cầu nguyện, cử hành phụng vụ, và biểu dương niềm tin và hy vọng phục sinh nữa.
Như vậy, tục lệ an táng người chết không còn phải là một vấn đề văn hóa mà thôi, nhưng còn gắn liền với niềm tin Kitô giáo, phải không?
Có lẽ trong quá khứ ít khi có người đặt ra câu hỏi đó. Tưởng cũng nên biết là tuy quan niệm về số phận con người sau khi chết có khác nhau, nhưng tục lệ chôn cất người chết coi như là phổ thông trong những miền mà Phúc âm được rao giảng trong các thế kỷ đầu tiên. Nghĩ tới các kim tự tháp bên Ai cập thì đủ rõ: các kim tự tháp chẳng qua chỉ là các lăng tẩm của các vua Pharaô đó thôi. Nói được là trong suốt thời Trung cổ tại Âu châu, không ai đòi xét lại vấn đề chôn cất người chết cả. Mặt khác, phụng vụ đã có nghi thức không những là để cầu cho người quá cố, mà còn có lễ nghi an táng, bắt đầu từ khi tẩn liệm nhập quan, kế đo đưa quan tài vào nhà thờ cử hành thánh lễ cầu hồn, và sau cùng là nghi thức tạm biệt, khi mà cộng đoàn tháp tùng quan tài ra nghĩa trang, đến nơi an nghỉ.
Từ khi nào có người đòi xét lại vấn đề an táng người chết, và thay thế bằng việc hỏa thiêu?
Thực ra thì vào thời Trung cổ, đôi khi người ta cũng thi hành việc hỏa thiêu, chẳng hạn như khi xảy ra một vụ dịch tễ; nhưng đó chỉ là ngoại lệ. Việc xét lại xảy ra không phải từ khi Phúc âm được truyền bá sang nền văn hóa quen thuộc với tục hỏa táng (tỉ như tại Ấn độ), nhưng là tại Âu châu, và cách riêng là tại Pháp. Do ảnh hưởng của các nhóm Tam điểm, nhiều phong trào đã được thành lập để cổ động cho viec hỏa táng. Một kết quả cụ thể là quốc hội Pháp biểu quyết đạo luật ngày 15/11/1887 cho phép các công dân đuọc tự do lựa chọn giữa việc mai táng hay hỏa thiêu. Và hai năm sau đó, khi đạo luật có giá trị chấp hành, một lò hỏa thiêu đã được khai trương tại nghĩa trang thành phố Paris.
Phản ứng của Giáo hội đối với việc hỏa táng thế nào?
Vào cuối thế kỷ XIX, Bộ Thánh vụ (nay gọi là Bộ Giáo lý đức tin) đã ra nhiều nghị định liên quan tơi việc hỏa táng. Một nghị định ngày 19/5/1886 cấm các tín hữu không được gia nhập những tổ chức phổ biến việc hỏa táng. Vài tháng sau, ngày 15/12/1886, một nghị định khác phạt người nào tự nguyện chấp nhận hỏa táng thân xác của mình sẽ không được an táng theo lễ nghi tôn giáo. Ngày 27/7/1892, một nghị định nữa thêm vài chi tiết ngăn cấm việc hỏa táng (nới rộng ra cả người làm cố vấn kỹ thuật cho việc hỏa táng). Sở dĩ Bộ Thánh vụ đã có những biện pháp khắt khe như vậy là vì vào thời đó, các chiến dịch cổ động việc hỏa thiêu là do phong trào Tam điểm điều khiển, và phong trào này có nhiều điều chống lại Giáo hội Công giáo. Họ cho rằng việc an táng ngươi chết là điều hủ lậu, bởi vì dựa trên lòng mê tín về việc con người có linh hồn bất tử. Mặt khác, tuy rằng sự hỏa thiêu tự nó không có gì trái ngược với đúc tin Kitô giáo, nhưng tâm thức của người thời đó vẫn coi chuyện hỏa thiêu như cái gì kinh tởm, tàn bạo. Vả lại, khi hỏa thiêu thì đâu có thể thi hành nghi thức an táng cổ truyền được nữa.
Những quy luật chống lại việc hỏa thiêu ngày nay có còn giá trị nữa không?
Cần nhắc lại là những nghị định trên đây đã được ban hành hối cuối thế kỷ XIX, trước khi có Bộ giáo luật. Trong bộ giáo luật ra đời năm 1917, kỷ luật ngăn cấm vẫn còn được duy trì ở đ.1203. Thêm vào đó, ai tình nguyện để cho xác mình hỏa táng sẽ bị phạt không được an táng theo nghi thức tôn giáo. Mãi tới ngày 08/05/1963 mới có sự chuyển hướng trong kỷ luật của Giáo hội. Xét rằng nhiều người đã chọn việc hỏa táng không phải vì lý do bài trừ tôn giáo, cho nên Bộ Thánh vụ đã ra một nghị định mới nói như sau: “Cần phải cố gắng duy trì tục lệ an táng người chết. Những điều ngăn cấm việc hỏa táng được bãi bỏ, trừ khi nào đã rõ là đương sự đã chọn lựa hỏa táng vì chối bỏ các tín điều Công giáo, hay vì lòng thù ghét khích bác Giáo hội. Để khỏi làm suy giảm sự gắn bó của các Kitô hữu đối với việc an táng, những nghi thức dành cho việc an táng và các kinh nguyện kế tiếp sẽ không bao giơ được cử hành tại nơi hỏa táng. Và cũng sẽ không tháp tùng thi hài ra đến nơi hỏa táng.”
Nói như vậy là không có một nghi thức nào dành cho những người hỏa táng hay sao?
Tôi vừa mới nói đến nghị định của Bộ Thánh vụ ra năm 1963, nghĩa là trước khi bế mạc Công đồng Vatican II. Sau Công đồng, chúng ta thấy có một cuộc cải tổ về kỷ luật cũng như về phụng vụ. Trong lãnh vực mà chúng ta đang bàn, thì việc cải tổ phụng vụ tiến hành sớm hơn, với sự xuất bản nghi thức an táng (Ordo exsequiarum) vào năm 1969. Nghi thức cho phép cử hành lễ nghi an táng cho những ngưởi tín hữu nào đã chọn việc hỏa táng không phải vì những lý do trái nghịch với Kitô giáo. Và những nghi thức được cử hành tại nhà nguyện nghĩa trang hay tại huyệt thì có thể được cử hành tại nơi hỏa thiêu, hay tại lò hỏa thiêu (Dẫn nhập, Praenotanda, số 15). Như vậy là ta thấy có sự thay đổi, so với nghị định của Bộ Thánh vụ năm 1963. Còn việc cải tổ kỷ luật, thì như chị đã biết, được hình thành với việc ban hành bộ giáo luật năm 1983. Đ.1176, khoản 3, nói như sau: “Giáo hội thiết tha khuyên nhủ nên duy trì phong tục đạo đức chôn cất thi hài người quá cố. Tuy nhiên, Giáo hội không cấm hỏa táng, trừ khi nào sự hỏa táng được chọn lựa vì những lý do trái ngược với đạo lý Kitô giáo”. Như vậy, không có chi mới lạ.

Nói tóm lại, thì có thể cử hành lễ nghi an táng cho người hỏa thiêu, phải không?
Cứ dựa theo các bản văn thì phải trả lời là có thể cử hành các lễ nghi. Thế nhưng khi đi vào thực tế thì người ta mới thấy nó rắc rối. Phải hiểu thế nào là nghi thức an táng dành cho người hỏa thiêu? Có nghĩa là mang thi hài đến nhà thờ cử hành thánh lễ an táng trước khi đem hỏa táng ư? Chuyện này chẳng có gì khó khăn cả. Có nghĩa là làm phép xác tại nghĩa trang trước khi hỏa thiêu, tương tự như trước khi chôn xuống lòng đất ư? Vấn đề trở nên phức tạp hơn, bởi vì phải thay đổi nhiều lời kinh. Chưa hết, lại còn có chuyện thi hài được hỏa táng liền sau khi chết; thế thì có được đem hũ tro vào nhà thờ cử hành thánh lễ giống như là đối với thi hài hay không? Trong một bài báo đăng trong tạp chí “Notitiae” năm 1977 (trang 45), bộ Phụng tự đã trả lời là không, bởi vì thiếu trung thực với cử chỉ. Trong nghi thức an táng với sự hiện diện của thân xác, Giáo hội bày tỏ lòng tôn kính đối với thân xác, đã được thánh hóa nhờ bí tích rửa tội, và trở nên đền thờ của Thánh Thần. Đám tro tàn không còn bộc lộ được dấu hiệu đó nữa, vì thế cho nên không thể dành cho đám tro những nghi thức dành cho thân xác, tựa như xông hương. Dĩ nhiên, việc dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho những người qua đời là chuyện khác, cho dù có thi hài hay không. Nhưng phần nào những câu hỏi vừa rồi còn nằm trong phần nguyên tắc. Khi đi vào thực tế, các mục tử còn thấy nhiều khó khăn khác nữa. Thí dụ như tại nhiều nơi Giáo hội có thể có nghĩa trang riêng, và tổ chức các nghi thức tại đó tùy tiện. Nhưng các lò hỏa thiêu thì do Nhà nước quản lý, và được điều hành theo luật lao động, nếu chưa dám thêm là theo quy tắc của Sở vệ sinh. Chính vì thế mà sự hiện diện của thân nhân tại những nơi này đã gặp nhiều trở ngại rồi, phương chi là sự có mặt của các giáo sĩ để thi hành lễ nghi tôn giáo. Kế đó, phải xử sự như thế nào đối với tro tàn: tung bay theo chiều gió, đổ xuống sông, lưu trữ ở nơi công cộng, hay mang về gia đình? Đó là những thắc mắc mà các Hội đồng Giám mục Âu Mỹ đang nghiên cứu.
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.