KINH THÁNH và ÁN TỬ

01-09-2022 3,656 lượt xem

*Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 09/2022:

Cầu cho hủy bỏ án tử hình: Xin cho án tử hình, vốn xúc phạm nghiêm trọng đến phẩm giá con người, bị hủy bỏ trong hiến pháp của các quốc gia trên toàn thế giới. (x. Những ngày Lễ Công Giáo, Tòa Tổng Giám Mục Saigon, tr.104)

----------------------------------------------------------------

Kinh Thánh có thực sự đề cập án tử đối với nhiều dạng vi phạm? CÓ và KHÔNG.

Tác giả David Reagan nói: “Rất nhiều người tin rằng Chúa Giêsu chống lại án tử. Theo cách nhìn của cả người đề xuất và người phản đối về án tử, trường hợp này đã khép lại. Chúa Giêsu chống lại án tử hình. Nhưng tôi phản đối. Các thần học gia cũng vẫn sai như thường. Chúa Giêsu đã được tái tạo bởi thế giới hiện đại qua danh nhân Mahatma Gandhi, Mẹ Teresa và Tiny Tim, những người có thể đã không thấy Chúa Giêsu được phác họa rõ ràng trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy xem lại hồ sơ.”

Kinh Thánh đã liệt kê nhiều loại tội với khung hình phạt là án tử hình:

– Tội giết người: “Ai đánh chết người thì phải bị giết chết.” (Xh 21:12)

– Tội bất hiếu: “Ai đánh cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết. Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết.” (Xh 21:15 và 17)

– Tội bắt cóc tống tiền: “Ai bắt cóc người, dù đã bán đi hay còn giữ trong tay thì phải bị giết chết.” (Xh 21:16)

– Tội thú tính: “Kẻ giao hợp với thú vật phải bị tử hình” (Xh 22:18); “Khi người đàn ông nào giao hợp với con vật thì phải bị xử tử, và các ngươi sẽ giết con vật. Khi người đàn bà nào đến gần bất cứ con vật nào để giao cấu với nó thì (các) ngươi phải giết người đàn bà và con vật; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng.” (Lv 20:15-16)

– Tội ngoại tình: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử” (Lv 20:10); “Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với một người đàn bà có chồng thì cả hai sẽ phải chết: người đàn ông đã nằm với người đàn bà, và cả người đàn bà.” (Đnl 22:22)

– Tội thông dâm: “Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô thì anh em sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại. Anh em phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em.” (Đnl 22:23-24)

– Tội hiếp dâm: “Nhưng nếu người đàn ông gặp ở ngoài đồng cô gái đã đính hôn, bắt lấy nàng và nằm với nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng sẽ phải chết; còn cô gái thì anh em đừng làm gì nàng, nàng không có tội đáng chết. Trường hợp cũng như một người xông vào người đồng loại để giết người ấy: vì người đàn ông kia đã gặp cô ngoài đồng; cô gái đính hôn đã kêu mà không ai cứu.” (Đnl 22:25-27)

– Tội loạn luân: “Khi người đàn ông nào nằm với vợ của cha mình, thì đã lột trần chỗ kín của cha mình; cả hai phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng. Khi người đàn ông nào nằm với con dâu mình, thì cả hai phải bị xử tử; chúng đã làm điều quái đản, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:11-12); “Khi người đàn ông nào lấy cả con gái lẫn mẹ thì đó là tội ác tày trời; người ta sẽ bỏ nó và hai người đàn bà vào lửa mà thiêu, để không còn tội ác tày trời giữa các ngươi.” (Lv 20:14)

– Tội đồng tính luyến ái: “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng.” (Lv 20:13)

– Tội tiên tri giả: “Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ hay một kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh em một dấu lạ hay một điềm thiêng, nếu dấu lạ hay điềm thiêng nó đã nói xảy ra, và nó bảo: ‘Chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác,’ những thần mà anh em không biết thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với Người. Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa.” (Đnl 13:2-6)

– Tội vu khống và đàng điếm: “Khi một người đàn ông lấy vợ và ăn nằm với nàng, rồi ghét bỏ nàng, vu khống và bôi xấu danh dự nàng mà nói: ‘Tôi đã lấy người đàn bà này, đã gần gũi với cô ấy và không thấy dấu nào chứng tỏ cô ấy còn trinh,’ cha mẹ cô gái sẽ lấy những dấu chứng tỏ cô gái còn trinh và đưa ra cửa thành cho các kỳ mục thành ấy. Người cha cô gái sẽ nói với các kỳ mục: ‘Tôi đã gả con gái cho người đàn ông này, nhưng anh ta ghét bỏ nó; bây giờ anh ta vu khống nó và nói: Tôi không thấy những dấu chứng tỏ con gái ông còn trinh. Vậy đây là những dấu chứng tỏ con gái tôi còn trinh.’ Họ sẽ mở chiếc áo choàng ra trước mặt các kỳ mục trong thành. Các kỳ mục trong thành sẽ bắt người chồng và sửa phạt: họ sẽ bắt người ấy nộp phạt một trăm thỏi bạc, và sẽ trao số bạc đó cho người cha cô gái, vì người ấy đã bôi xấu danh dự của một trinh nữ Ít-ra-en. Nàng sẽ là vợ người ấy và suốt đời người ấy không thể rẫy nàng. Nhưng nếu điều đó có thật, nếu người ta không tìm thấy nơi cô gái những dấu chứng tỏ cô còn trinh, họ sẽ lôi cô gái ra cửa nhà cha nàng; người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết và nàng sẽ phải chết, vì nàng đã làm điều đồi bại trong Ít-ra-en, khi làm điếm trong nhà cha mình.” (Đnl 22:13-21) Ở đây cũng hiểu là dạng hoạt động mại dâm.

Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn tỏ lòng thương xót khi án tử được áp dụng. Đa-vít phạm tội ngoại tình và giết người, (x. 2 Sm 11:1-5, 14-17) nhưng Thiên Chúa không kết án tử. (x. 2 Sm 12:13) Cuối cùng, mọi tội lỗi chúng ta phạm đều đáng chịu án tử vì “lương bổng của tội lỗi là cái chết.” (Rm 6:23) Tạ ơn Thiên Chúa, Ngài luôn tỏ lòng thương xót đối với chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân. (x. Rm 5:8)

Có vấn đề gì đối với hành động của Chúa Giêsu?

Khi người Pharisêu dẫn một phụ nữ phạm tội ngoại tình đến gặp Chúa Giêsu, họ lý luận rằng chị ta phải bị ném đá đến chết theo luật Môsê, Ngài im lặng và cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất, vì Ngài biết lòng lang dạ thú của nhóm Pharisêu. Nhưng họ cứ hỏi mãi, Ngài ôn tồn: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” (Ga 8:7) Và rồi chẳng ai dám động tay vào hòn đá, họ lặng lẽ lần lượt rút lui, già đi trước, trẻ theo sau. Ở đây, Chúa Giêsu muốn lột trần thói giả hình của nhóm Pharisêu. Họ chỉ muốn gài bẫy để thấy Ngài phá bỏ Luật Cựu Ước, chứ họ thực sự không quan tâm việc ném đá nữ tội nhân kia.

Thiên Chúa không phản đối án tử đối với người phạm tội ác: “Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 9:6) Nhưng Thiên Chúa luôn nhân từ và giàu lòng thương xót. Khi chỉ còn lại mình nữ tội nhân ngoại tình khép nép đứng đó, Chúa Giêsu ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?.” Chị nhỏ nhẹ đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Chúa Giêsu cười và nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:1-11)

Thánh Phaolô nói về trật tự xã hội được thể hiện qua thế quyền: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm. Đó cũng là lý do khiến anh em nộp thuế: nhân viên thu thuế là những người phục vụ Thiên Chúa, khi chu toàn phận sự. Anh em nợ ai cái gì thì hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13:1-7). Người Việt có cách nói giản dị mà thâm thúy: “Ăn cây nào, rào cây ấy.” Chúa Giêsu cũng đã nói thẳng với tổng trấn Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài.” (Ga 19:11)

Chúa Giêsu không làm gì ngược với luật Thiên Chúa đã truyền ban: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” (Mt 5:17-18) Một bộ luật có nhiều điều khoản. Chúa Giêsu không bỏ qua một điều khoản nào. Như vậy, Ngài cũng chẳng phản đối án tử, nhưng Ngài muốn thể hiện lòng thương xót khi không kết án tử.

Sau Đại Hồng Thủy thời ông Nô-ê, Thiên Chúa đã che chở con người thoát khỏi bạo lực: “Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 9:5-6) Đó là tính thánh thiêng của sự sống con người, nên Cựu Ước có luật báo phục tương xứng: “Mắt đền mắt, răng đền răng.” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21)

Kitô hữu nghĩ gì về án tử? Trước hết, chúng ta phải nhớ rằng Thiên Chúa đã lập nên án tử. Chúng ta sẽ trở nên kiêu ngạo nếu nghĩ rằng chúng ta có thể lập nên một tiêu chuẩn cao hơn. Thiên Chúa có tiêu chuẩn cao nhất, vì Ngài hoàn hảo. Tiêu chuẩn này không chỉ áp dụng cho chúng ta mà còn cho chính Con Một Ngài: Chúa Giêsu bị người đời kết án tử, rồi Ngài đã bị đóng đinh và chết trên Thập Giá. Do đó, Ngài muốn cấp độ vô hạn, và Ngài có lòng thương xót ở cấp độ vô hạn. Thiên Chúa duy trì mức cân bằng tuyệt hảo.

Thứ hai, chúng ta phải biết rằng Thiên Chúa đã trao cho chính phủ quyền xác định khi nào cần áp dụng án tử. (x. St 9:6 và Rm 13:1-7) Chúng ta nên chấp nhận án tử khi được áp dụng đối với những người phạm tội ác. Thánh Phaolô đã nói với ông Phéttô: “Nếu quả thật tôi có tội, nếu tôi đã làm điều gì đáng chết, thì tôi không xin tha chết. Nhưng nếu những điều tố cáo của các người này là vô căn cứ, không ai có quyền nộp tôi cho họ. Tôi kháng cáo lên hoàng đế Xê-da!” (Cv 25:11)

Đừng ảo tưởng về một Giêsu nào khác. Thánh Phaolô đã cảnh báo về các thầy dạy giả và người rao giảng giả: “Nếu có ai đến rao giảng một Đức Giêsu khác với Đức Giêsu mà chúng tôi rao giảng, hay nếu anh em lãnh nhận một Thần Khí nào khác với Thần Khí anh em đã lãnh nhận, hoặc nếu anh em lãnh nhận một Tin Mừng nào khác với Tin Mừng anh em đã đón nhận, anh em sẵn lòng chịu đựng được ngay.” (2 Cr 11:4) Chúng ta vẫn nên cảnh giác về các tiên tri giả ngày nay.

Tác giả Reagan kết luận: “Chúa Giêsu tin có án tử. Điều đó được Thiên Chúa thiết lập, được hệ thống hóa bởi luật pháp, được Chúa Giêsu chấp nhận và được Thánh Phaolô duy trì. Các thần học gia không có chứng cớ chống lại điều đó. Đừng hiểu về một Đức Giêsu nào khác. Mong sao chúng ta đừng bao giờ theo bất cứ một Đức Giêsu nào khác, mà chỉ trung tín với Chúa Giêsu của Kinh Thánh.”

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ từ https://www.beliefnet.com

ÁN TỬ HÌNH

Lịch sử của án tử hình ở Hoa Kỳ có thể bắt nguồn từ thời thuộc địa vào những năm 1600. Người ta cho rằng bản án tử hình đầu tiên được ghi nhận và hành quyết bằng việc xử bắn tại Jamestown, Virginia, thuộc địa của Anh, năm 1608.

Slave Execution. Maleri.

LỊCH SỬ BAN ĐẦU

Thuyền trưởng George Kendall bị hành quyết tại thuộc địa Jamestown năm 1608 vì tội làm gián điệp cho chính phủ Tây Ban Nha. Các cuộc treo cổ công khai diễn ra trong suốt những năm 1600 và hầu hết những năm 1700.

Các quy tắc liên quan án tử hình khác nhau giữa các thuộc địa. Các tội danh khác nhau – từ ăn cắp thực phẩm, buôn bán với thổ dân da đỏ, phù thủy và tà giáo, đến tội nô lệ giết chủ nhân hoặc vợ giết chồng – đều bị kết án tử hình. Theo nhiều thuộc địa, án tử hình được xem là biện pháp răn đe. Chỉ thông qua các bài viết của các nhà lý thuyết châu Âu như Montesquieu, Voltaire, Bentham, John Bellers và John Howard mà phong trào bãi nô mới có vị thế. Phong trào này đã đạt được động lực vào năm 1764, khi luật gia kiêm triết gia Cesare Beccaria, người Ý, đã viết tiểu luận “Về Tội Ác và Trừng Phạt.” Ông nói rằng không có lý do biện minh nào cho việc lấy mạng sống của một con người.

Sau đó, khi bản Tuyên Ngôn Độc Lập được ký kết (1776), nhiều người đã ký tên như Tiến sĩ Benjamin Rush (sáng lập viên Hiệp Hội Nhà Tù Pennsylvania), Benjamin Franklin và Tổng Chưởng Lý William Bradford của Philadelphia, cho rằng án tử hình không phải là cách răn đe đối với một số tội phạm nhất định và nó thực sự làm tăng hành vi phạm tội. Năm 1794, Pennsylvania là tiểu bang đầu tiên xem xét các mức độ giết người, đã bãi bỏ án tử hình cho tất cả các tội phạm ngoại trừ giết người ở cấp độ một.

THẾ KỶ XIX

Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, động thái bãi bỏ án tử hình đã thấy ​​ở nhiều tiểu bang là kết quả của “thời đại Jacksonian,” lên án việc dùng giá treo cổ và tuyên bố đối xử nhân đạo hơn với tội phạm. Không chỉ số lượng tội phạm giảm, nhưng các trại cải huấn của nhà nước được xây dựng. Năm 1834, Pennsylvania trở thành tiểu bang đầu tiên chuyển các vụ hành quyết vào các trại cải huấn và không công khai. Một số tiểu bang như Michigan đã bãi bỏ án tử hình từ năm 1846 cho tất cả các tội phạm ngoại trừ tội phản quốc, trong khi các tiểu bang khác, như Rhode Island và Wisconsin, đã bãi bỏ án tử hình cho tất cả các tội phạm. Nhiều bang bắt đầu bãi bỏ án tử hình, nhưng vẫn áp dụng án tử hình đối với các tội liên quan sinh mạng, chẳng hạn các tội phạm do nô lệ gây ra. Một cuộc cải cách lớn và thắng lợi cho những người theo chủ nghĩa bãi bỏ án tử hình đã thấy ​​khi Tennessee, và sau đó là Alabama, đã ban hành các đạo luật về án tử hình tùy ý năm 1838: các trường hợp phạm tội phải được xem xét. Sự phản đối án tử hình đã giảm dần trong cuộc nội chiến do xung đột giữa hai miền Nam và Bắc. Không mất nhiều thời gian trước khi các phương pháp hành quyết mới được phát triển, ví dụ như ghế điện, New York (1888).

THẾ KỶ XX

“Thời Kỳ Tiến Bộ” của cải cách đã diễn ra trong nửa đầu của thế kỷ XX. Trong khoảng thời gian từ 1907 đến 1917, có 6 tiểu bang đã đặt án tử hình ra ngoài vòng pháp luật, và 3 tiểu bang khác giới hạn nó ở các tội phản quốc và giết người cấp độ một đối với các quan chức thực thi pháp luật. Cuộc cải cách này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Khi chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ bị thách thức bởi những người xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng cuộc Cách Mạng Nga, công dân Hoa Kỳ đã hoảng sợ. Mỹ cũng bước vào thế chiến I (1914-1918). Như một cách phản ứng, năm 1920 có 5 trong số 6 quốc gia theo chủ nghĩa bãi nô đã khôi phục án tử hình.

Một số tiểu bang đã cố gắng tìm ra cách xử tử nhân đạo hơn là treo cổ hoặc điện giật; do đó, khí gây chết người được trao cho một tù nhân trong phòng hơi ngạt ở Nevada năm 1924. Với Kỷ Nguyên Ngăn Cấm của những năm 1920 và Đại Suy Thoái những năm 1930, các nhà tội phạm học hàng đầu cho rằng án tử hình là biện pháp răn đe xã hội cần thiết nhất. Nhiều vụ hành quyết diễn ra trong những năm 1930 ở Hoa Kỳ hơn bất kỳ thập niên nào khác trong lịch sử Hoa Kỳ. Sau thế chiến II, nhiều người quay lưng lại với án tử hình do hậu quả của những hành động tàn bạo diễn ra trong chiến tranh. Trong những năm 1950 và đầu những năm 1960, Liên Minh Tự Do Dân Sự Hoa Kỳ (ACLU) và Quỹ Bảo Vệ Pháp Lý của Hiệp Hội Quốc Gia Vì Sự Tiến Bộ Người Da Màu (NAACP) đã tập trung nỗ lực vào việc cho kháng cáo các vụ án tử hình. Những năm 1950 có số vụ xử tử ở Hoa Kỳ giảm khoảng một nửa.

HIẾN PHÁP VỀ ÁN TỬ HÌNH

Tính hợp pháp của án tử hình đã bị thách thức vào những năm 1960. Lúc đó, có ý kiến cho rằng án tử hình là vi hiến theo Tu Chính Án Thứ Tám và được coi là hình phạt “tàn nhẫn và bất thường,” Torp kiện Dulles (1958). Kể từ đó, những người theo chủ nghĩa bãi nô đã thách thức Tòa Án Tối Cao tại nhiều phiên tòa, buộc tòa án phải điều chỉnh cách thức tùy tiện áp dụng án tử hình. Trong cuối những năm 1960 và 1970, nhiều vụ án đã được đưa ra trước Tòa Án Tối Cao, nơi tập trung vào vai trò của bồi thẩm đoàn và suy xét, khuyến nghị, bảo lưu hoặc công bằng đối với án tử hình, U.S. v. Jackson (1968), Witherspoon kiện Illinois (Năm 1968).

ÁN TỬ HÌNH ĐƯỢC TẠM NGƯNG VÀ TÁI LẬP

Vụ án nổi tiếng Furman kiện Georgia (1972) đã đặt ra tiêu chuẩn trong nhiều năm ở Hoa Kỳ. Tòa Án Tối Cao kết luận rằng việc cho bồi thẩm đoàn toàn quyền quyết định án tử hình cho tội giết người là hình phạt “tàn nhẫn và bất thường” và vi phạm Tu Chính Án Thứ Tám, đặc biệt nếu nó không phù hợp với tội phạm đó. Ngày 29-6-1972, Tòa Án Tối Cao đã hủy bỏ 40 luật tử hình, theo đó thay đổi bản án của 629 tù nhân chờ tử hình và đình chỉ bản án của họ. Vì không phải tất cả các luật về án tử hình đều bị hủy bỏ, nên Tòa Án Tối Cao đã cho từng tiểu bang riêng lẻ ủng hộ án tử hình – tức là Florida, lựa chọn việc đưa ra các luật mới.

HƯỚNG DẪN KẾT ÁN

Trong khi một số tiểu bang đã cố gắng loại bỏ mọi quyền quyết định của bồi thẩm đoàn về án tử hình đối với những tội phạm liên quan sinh mạng, các tiểu bang khác đã cố gắng hạn chế quyền quyết định của bồi thẩm đoàn qua việc thiết lập các nguyên tắc tuyên án. Ví dụ, các nguyên tắc sẽ cho phép đưa ra các yếu tố tăng nặng và giảm nhẹ khi tuyên án. Các nguyên tắc hướng dẫn này đã được Tòa Án Tối Cao phê chuẩn, Gregg kiện Georgia (1976). Các luật mới về án tử hình được ban hành ở các tiểu bang ủng hộ án tử hình như Florida, Georgia và Texas giờ đã hợp hiến; do đó, án tử hình đã được phục hồi ở các tiểu bang này.

TÁI LẬP ÁN TỬ HÌNH

Các cuộc hành quyết lại tiếp tục với vụ xử tử kẻ sát nhân Gary Gilmore, trước một đội bắn, ngày 17-1-1977 tại Utah. Oklahoma đã áp dụng phương pháp chích thuốc làm chết vào cùng năm đó. Mặc dù việc bãi bỏ án tử hình ngày càng gia tăng ở Âu châu nhưng Mỹ vẫn giữ.

HẠN CHẾ ÁN TỬ HÌNH

Từ những năm 1970 đến những năm 1990, Tòa Án Tối Cao cho rằng một số tội phạm nhất định không thể bị trừng phạt bằng án tử hình và do đó án tử hình bị coi là vi hiến và vi phạm Tu Chính Án Thứ Tám. Trong các trường hợp phạm tội như hiếp dâm các nạn nhân nữ nếu họ không bị giết, tội phạm của người bị tâm thần và của người chưa thành niên – dưới 16 tuổi, Thompson kiện Oklahoma (1988), án tử hình là vi hiến.

ÁN TỬ HÌNH VÀ THANH THIẾU NIÊN

Mặc dù việc hành quyết người chưa thành niên – dưới 16 tuổi, bị coi là vi hiến ở một số tiểu bang, các hạn chế vẫn tồn tại. Ở các tiểu bang không giới hạn độ tuổi tối thiểu trong quy chế án tử hình, người chưa thành niên tại thời điểm phạm tội vẫn có thể bị tử hình. Năm 1989, Tòa Án Tối Cao cho rằng Tu Chính Án Thứ Tám không cấm án tử hình đối với những tội ác mà những người 16 tuổi vi phạm, Stanford kiện Kentucky, và Wilkins kiện Missouri. Năm 1992, Hoa Kỳ đã phê chuẩn Điều 6 (5) của Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị, trong đó quy định rằng án tử hình sẽ không được áp dụng đối với những người chưa thành niên phạm tội khi dưới 18 tuổi. Nhiều quốc gia khác không bảo lưu điều này, nhưng Mỹ vẫn giữ quyền làm như vậy.

KHIẾU NẠI

Một vấn đề khác mà Tòa Án Tối Cao đã phải giải quyết năm 1993, tại phiên tòa Herrera kiện Collins, là tính hợp hiến của việc xử tử một bị cáo tuyên bố vô tội thực sự. Tòa Án Tối Cao đã ủng hộ tính khả dĩ rằng Hiến Pháp cấm hành quyết bất kỳ người nào chứng minh một cách dứt khoát rằng họ vô tội. Đồng thời, tòa án cho rằng miễn là không có vi phạm hiến pháp nào khác, “bằng chứng mới về sự vô tội không đủ lý do để tòa án liên bang mở phiên tòa xét xử mới.” Thay vào đó, đa số tòa án khuyến nghị rằng những người có thể chứng minh sự vô tội nên tìm kiếm sự khoan hồng của hành pháp từ thống đốc của tiểu bang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm sự khoan hồng phần nào bị cấm khi quy trình kháng cáo bị thay đổi do Luật Chống Khủng Bố và Án Tử Hình có hiệu lực năm 1996. Khó khăn hơn nhiều đối với các tù nhân chờ án tử bị lật ngược bản án.

Kể từ đó, mối quan tâm liên quan việc xử tử những người vô tội đã trở thành cơ sở chính cho các cuộc tranh luận chống án tử hình. Hội nghị chính thức đầu tiên thu hút sự chú ý của công chúng là Hội Nghị Quốc Gia về Kết Án Sai Trái và Án Tử Hình ở Chicago, Illinois, năm 1998. Năm 1999, một nghị quyết đã được Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (UNCHR) thông qua. Nghị quyết này kêu gọi tất cả các quốc gia vẫn duy trì án tử hình để “hạn chế dần dần số lượng tội phạm mà nó có thể được áp dụng với quan điểm hoàn toàn xóa bỏ nó.”

Áp lực trên toàn thế giới chống lại án tử hình cùng với việc gia tăng chi tiêu cho các vụ kháng cáo và tòa án có thể là một số lý do thập niên này đã giảm dần sự ủng hộ của công chúng đối với án tử hình. Lịch sử đã chỉ ra rằng thời gian và hoàn cảnh làm thay đổi quan điểm. Trong khi có nhiều bang ủng hộ án tử hình, các cuộc chiến giành công lý sẽ tiếp tục diễn ra tại các tòa án địa phương và liên bang.

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ từ https://ndla.no

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.