SUY NIỆM CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN – B
Lời Chúa: Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52
ĐỨC KI-TÔ LÀ NIỀM HY VỌNG CHO NHÂN LOẠI – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
NIỀM VUI CÓ CHÚA – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
NHÌN THẤY CHÚA và SỐNG THEO CHÚA – Phêrô Phạm Văn Trung
NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
NIỀM TIN - ĐỨC TIN – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
LẠY CHÚA, XIN CHO CON NHÌN THẤY – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
ĐỨC KI-TÔ LÀ NIỀM HY VỌNG CHO NHÂN LOẠI
Thế giới hôm nay đang bị xâu xé vì xung đột. Những chiến dịch quân sự ngày một leo thang đến nỗi nhiều người tiên đoán một cuộc chiến tranh bằng vũ khí nguyên tử, hoặc chiến tranh thế giới lần thứ ba. Nhân loại đã kinh nghiệm đau thương vì những cuộc chiến tranh trong quá khứ, hiện nay lại bị lôi kéo vào những tranh chấp cam go khốc liệt, khiến máu chảy đầu rơi và cướp đi mạng sống nhiều dân lành. Làm sao chúng ta có thể nói về hy vọng trong một thế giới đầy bất ổn này?
Vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, người Do Thái bị bắt đi lưu đày tại Babylon. Trong cảnh nước mất nhà tan, họ luôn than khóc đau buồn. Giữa cảnh tha hương, họ vẫn kêu cầu Thiên Chúa, xin Ngài giải phóng họ khỏi ách lưu đày. Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a hôm nay là lời hứa của Thiên Chúa cho dân lưu đày. Qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ngài báo cho mọi người biết: họ sẽ được về quê hương xứ sở trong niềm vui vỡ òa. Trong đoàn người hồi hương ấy, có đủ mọi thành phần, kể cả những người tàn tật, nghèo khó, vì Chúa là Thiên Chúa của tình thương.
Nếu Thiên Chúa của Cựu ước đã giải phóng dân riêng khỏi ách lưu đày thể xác, thì Đức Giê-su, Con Thiên Chúa nhập thể, lại đến trần gian để giải phóng con người thoát khỏi ràng buộc của tội lỗi. Bằng giáo huấn của Người, Chúa Giê-su đưa con người thoát ra cảnh mù tối thiêng liêng. Đó là sự hận thù, ích kỷ, ghen tương, tham lam đố kỵ. Đó cũng là sự vô cảm dửng dưng trước nỗi khổ của đồng loại. Qua phép lạ chữa lành người mù ở cổng thành Giê-ri-cô, Chúa Giê-su muốn khẳng định: Người là Thiên Chúa quyền năng, và thời Thiên sai đã đến. Đây là lúc những gì các ngôn sứ đã tiên báo trong Cựu ước đạt tới mức thành toàn. Lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói trước kia, đã được thực hiện trong cuộc hồi hương của người Do Thái, và hôm nay đang được thực hiện nơi Đức Giê-su, vị Ngôn sứ có uy quyền trong hành động và lời nói.
Đức Ki-tô là niềm hy vọng cho thế giới. Đó là khẳng định và là niềm xác tín của đức tin Ki-tô giáo. Chúng ta có thể khẳng định chắc chắn như thế vì chúng ta tin Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, là Đấng có thể làm được mọi sự, vào lúc Ngài muốn và theo cách Ngài muốn. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô đã viết trong Thông điệp Spe Salvi “Đức Ki-tô nói cho chúng ta biết con người là gì, phải làm gì để trở nên người đích thực. Người chỉ cho chúng ta thấy con đường và con đường này là chân lý. Người là con đường và là chân lý, vì thế là sự sống mà chúng ta trông mong (số 6).” Thư gửi tín hữu Do Thái (Bài đọc II) đã khẳng định sự gần gũi yêu thương của Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô. Người là vị Thượng tế cảm thông những yếu đuối của chúng ta. Người vẫn đang tiếp tục dâng chính thân mình làm của lễ để tôn vinh tình thương của Chúa Cha và xin ơn an bình cho nhân loại. Qua mầu nhiệm Nhập thể, Thiên Chúa không còn xa cách con người. Đức Giê-su là Thiên Chúa. Người đến gặp gỡ con người và mang cho họ sự đỡ nâng tinh thần thể xác. Ngày hôm nay, Chúa Giê-su vẫn đang đi ngang qua cuộc đời chúng ta. Người gõ cửa tâm hồn chúng ta để mời gọi chúng ta thực hiện đức công chính, cùng nhau xây dựng một thế giới huynh đệ. Nếu mọi người biết lắng nghe và thực hành thông điệp do Chúa nhắn gửi, thì thế giới sẽ bình an và lòng nhân ái sẽ lan toả trong cuộc sống của chúng ta.
Sống trong thế giới hôm nay, người Ki-tô hữu không dửng dưng với những mối bận tâm của thế giới. Trái lại, mỗi người phải cầu nguyện cho hòa bình và cố gắng góp phần xây dựng hòa bình. Hòa bình khởi đi từ mỗi cá nhân, khi chúng ta sống hài hòa với anh chị em, cổ võ nền văn minh tình thương, tôn trọng sự sống và phẩm giá của người khác. Đó là những hạt giống của niềm hy vọng mà các Ki-tô hữu được mời gọi hãy nỗ lực tung gieo vào mọi môi trường xã hội.
Ki-tô hữu là người tin cậy vào Thiên Chúa. Họ tin Ngài có thể làm được mọi sự. Thiên Chúa của Người Do Thái cũng là Thiên Chúa của người Kitô hữu. Ngài là Đấng làm cho điều không thể thành điều có thể.
“Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được!”. Đó là lời van xin của người mù ở cổng thành Giê-ri-cô. Đó cũng là lời cầu nguyện của mỗi chúng ta. Hãy xin Chúa mở mắt tâm hồn để chúng ta thấy những nhu cầu của công ích, của những người bị bỏ rơi, người nghèo khổ và những người đang bị dồn vào ngõ cụt của cuộc đời. Xin Chúa cũng mở mắt khai trí để chúng ta biết mình là ai trong cuộc sống hằng ngày.
Chúng ta hãy cầu nguyện với thánh Phan-xi-cô Át-si-di: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa!”. Khi thiện chí sống theo giáo huấn của Chúa Giê-su, chúng ta sẽ trở nên khí cụ bình an và là người thắp lên niềm hy vọng trong cuộc đời. mục lục.
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
Đặt mình vào hoàn cảnh của nhà Giacóp, cụ thể là dân Israel và Ephraim, hay của chính anh Bartimê con ông Timê trong Tin Mừng Marcô hôm nay, chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui có Chúa. Có Chúa là Cha, chúng ta là con, Cha lo cho con cái. Có Chúa mọi sự sẽ trở nên tốt lành.
Chúa là niềm vui của Israel
Khi dân Israel bị bắt đi lưu đày ở Babylon trở về, người trung thành với Chúa chỉ còn là số ít, họ quá yếu đuối, nghèo nàn và dễ bị tổn thương, đến nỗi không có phương tiện trở về, từ phương Bắc không thể tự giải thoát. Họ là những kẻ trở về để xây dựng đất nước : "trong chúng có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ". Bàn tay xây dựng lại Israel là những kẻ đui mù, chứ không phải các thanh niên cường tráng! Làm thế nào họ có được khả năng xây dựng lại quốc gia? Thanh niên, người khoẻ mạnh đã bị đế quốc tiêu diệt trong các lao động khổ sai. Họ phải cáng đáng công việc xây dựng lại quê hương.
Trong lúc cùng đường bế tắc như thế Giêrêmia tuyên sấm : Đây Chúa phán: Hỡi Giacóp, hãy hân hoan vui mừng! " (Gr 31, 7). Không thể vui mừng sao được khi mình đang đui mù, què quặt, mang thai nay có được Thiên Chúa toàn năng trợ giúp dẫn dắt trở về : "Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây" (Gr 31, 8). Theo Dianne Bergant: "Phụ nữ mang thai và các bà mẹ tuy yếu ớt, dễ bị tổn thương nhưng cũng là biểu tượng của phong phú và hy vọng. Họ nắm giữ tương lai trong bản thân mình. Khi họ rời bỏ chốn lưu đày về đất hứa, họ mang theo khả năng sinh sản và khởi sự một tương lai mới".
Đúng là người công chính, đạo đức thực thi công bình, bác ái, sống thánh thiện siêu nhiên, mặc cho thế giới này sa đoạ đến đâu, mặc cho gièm pha độc ác của kẻ giả hình, những vẫn khao khát tìm gặp và cậy dựa vào Chúa, người ấy sẽ có được niềm vui lớn lao. Anh mù thành Giêricô, tên là Bartimê trong Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng.
Chúa Giêsu là niềm vui của anh Bartimê
Anh Bartimeê mù loà, nghèo khổ, gặp được hạnh phúc thật nhờ Chúa Giêsu. Anh thiếu hai điều : cái nhìn thể lý và khả năng tìm kiếm công ăn việc làm để kiếm sống, nên buộc anh phải đi ăn xin. Anh cần sự giúp đỡ và anh ngồi bên vệ đường lối vào thành Giêricô, nơi có nhiều người qua lại.
May mắn cho anh, một hôm chính Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một số người khác đã đi ngang qua đó. Chắc chắn anh mù đã từng nghe nói về Chúa Giêsu, là Đấng đã làm nhiều phép lạ, Đấng ấy đang đến gần anh ta, chớp thời cơ, anh kêu lên : "Hỡi Con vua Davít, xin thương xót tôi!" (Mc 10, 47). Đối với những người đang đi theo Chúa thì tiếng kêu của anh mù thật khó chịu. Nhưng lời kêu xin lớn tiếng của anh chứng tỏ anh khao khát gặp Chúa lắm. Lời ấy vang tới tai và động đến tâm hồn Chúa Giêsu. Người muốn đáp ứng lời van xin của anh mù ăn mày này, nên truyền gọi anh đến đến và chữa lành anh ta.
Lập tức anh mù được đối diện với Con vua Đavít. Giây phút quyết định là sự khát khao gặp gỡ cá nhân, trực tiếp, giữa Chúa với người đang đau khổ. Hai người đối diện nhau : Thiên Chúa với ý muốn chữa lành và con người với ước ao được chữa lành. Hai sự tự do và hai ý chí đều huớng về một điểm. Cuộc đối thoại bắt đầu kẻ hỏi người thưa, "Chúa Giêsu nói với anh: " Anh muốn Ta làm gì cho anh? "Người mù đáp : "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy" Chúa ra lệnh: "Con hãy đi! Ðức Tin con đã cứu chữa con!" (Mc 10,51) Lập tức Chúa Giêsu cho anh thấy, anh hết sức vui mừng và đi theo Chúa.
Anh đã đổi đời khi quyết định chọn cho mình một lối đi mới là đi theo Chúa Giêsu trên chính con đường của Chúa chứ không còn theo con đường của anh từ nhà đến vệ đường mà anh đã gắn chặt nhiều năm để làm kế sinh nhai. Anh buông bỏ vệ đường, áo choàng, bỏ lại sự bám víu vào lòng hảo tâm của người qua kẻ lại… để bám chặt lấy Chúa Giêsu. Động lực đời anh không còn ngồi ăn nữa nhưng là vui bước bên Giêsu.
Gặp gỡ Đức Ki-tô biến đổi cuộc đời mình
Anh Batimê đã gặp gỡ Giêsu, một cuộc gặp gỡ tuyệt đẹp và đáng giá vì làm thay đổi tận căn cuộc đời anh. Anh có nhiều khát vọng, nhưng một khát vọng trung tâm và chủ đạo chi phối đời anh là gặp Chúa Giêsu. Đời sống của chúng ta cũng vậy, khát vọng Thiên Chúa của ta phải là khát vọng hướng dẫn mọi khát vọng khác. Nếu không, thân xác, tâm trí, tâm hồn và linh hồn ta sẽ trở thành kẻ thù của nhau và đời sống nội tâm của ta trở nên hồn độn, đưa ta tới chỗ thất vọng.
Nếu ta chúng ta nuôi dưỡng khát vọng gặp Chúa Giêsu, thì khao khát đó sẽ được chạm đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ có lòng khao khát gặp gỡ và sự chờ đợi lâu ngày mới cảm nhận niềm vui có Chúa và để Chúa biến đổi đời ta. mục lục.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
NHÌN THẤY CHÚA VÀ SỐNG THEO CHÚA
Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng tại Giêricô, một thành phố khá lớn, và khi Ngài rời khỏi thành phố, như thường lệ, có một đoàn dân đông đảo đi theo Ngài: “Một đám người khá đông ra khỏi thành Giêricô” (Mc 10:46). Đoàn dân vẫn khao khát nghe Chúa Giêsu nói, và họ vẫn muốn nhìn thấy điều kỳ diệu, rồi họ thấy một người mù ngồi bên đường: “Có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường” (Mc 10:46). Đối với dân chúng thời đó, việc bị mù như vậy là dấu hiệu của kẻ đã phạm tội và bị Thiên Chúa từ bỏ, nên người ta đã bảo người mù hãy im đi: “Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi” (Mc 10: 48). Một kẻ tật nguyền khốn khổ như anh ta không được phép gây phiền hà một vị thầy tiếng tăm Chúa Giêsu! Họ không ngờ sắp sửa chứng kiến một điều kỳ diệu được vị thầy Giêsu tiếng tăm thực hiện cho kẻ tật nguyền khốn khổ mà họ quát nạt này.
Cần đến lòng thương xót của Chúa
Thánh Máccô kề rằng người mù đó không phải là một kẻ vô danh; anh ta có một tên gọi riêng và thuộc về một gia đình riêng: “Anh ta là Batimê, con ông Timê” (Mc 10: 46). Trình thuật này có trong cả ba Tin Mừng Nhất Lãm: Mátthêu, Máccô và Luca, nhưng tên gọi Batimê chỉ xuất hiện trong Tin Mừng Máccô. Anh Batimê này là một trong những người hiếm hoi được chữa lành mà tác giả Tin Mừng Máccô đã cho chúng ta biết tên. Chính anh ta cũng đã gọi đích danh Chúa Giêsu: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10:47). Anh mù sử dụng danh hiệu “Con vua Đavít” – cũng là trường hợp duy nhất danh hiệu này được sử dụng trong Tin Mừng Máccô – như muốn xác định Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, ĐấngThiên Sai. Điều đó ám chỉ đến vương quyền của Chúa Giêsu, là người thừa kế lời hứa về Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã lập với Đavít: “Chúa lập cho ngươi một nhà… Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2 Sm 7:11,16). Điều này làm chúng ta nhớ đến lời truyền tin của Sứ thần Gabriel cho Mẹ Maria: “Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Ngài sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1:32-33). Trong sự mù lòa của mình, anh mù nhận ra Chúa Giêsu là Đấng mà những người sáng mắt khác không nhận thấy, Đấng có thể ban cho con người, và riêng anh ta, điều mà không ai khác có thể ban cho. Anh mù như thể đã biết trước rằng Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, đã đến để cứu con người, trong đó có cả anh ta, và anh ta có quyền gọi Ngài một cách trang trọng như vậy. Batimê không màng chi đến những người muốn bịt miệng anh ta. Càng bị ngăn cản, niềm khao khát được gặp Chúa Giêsu của anh ta càng mãnh liệt hơn, anh ta chẳng còn gì để mất cả! Chính vì thế, dù bị “Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi” (Mc 10:48), anh ta liên tục kêu lớn tiếng những lời như chào mừng tung hô và nài xin Chúa Giêsu: “Anh ta càng kêu lớn tiếng: Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10: 48). Chẳng phải anh ta vẫn một mực tin tưởng, hy vọng đến độ thực sự phấn khích vì Chúa Giêsu, Đấng Mêsia Cứu Thế, đang ở rất gần anh ta sao? Các phản ứng rất cụ thể và đầy cảm xúc đời thường của anh nói lên rất rõ sự hứng khởi đó. “Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu” (Mc 10:50). Đó là hành động dứt khoát của một người đã sẵn sàng và không một chút ngần ngại thực hiện yêu cầu của Chúa Giêsu.
Cũng như anh mù Batimê, khi chúng ta biết mình cần đến Chúa Giêsu chúng ta có thể nhận ra Ngài thực sự là AI. Chúng ta biết Ngài là Đấng có thể ban cho cuộc sống của chúng ta điều mà không ai khác có thể ban cho. Có thể đó là sự bảo đảm trong đức tin rằng chúng ta thuộc về Ngài, hoặc lòng thương xót của Chúa mà chúng ta biết mình cần, hoặc sự đảm bảo về tình yêu của Chúa bây giờ và mãi mãi. Do vậy điều cần phải làm là chúng ta hãy liên tục cầu xin những ơn này khi cầu nguyện. Nếu chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, thì chỉ cần nói đơn giản như anh mù Batimê: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10: 48).
2. Đứng lên và bước theo Chúa Giêsu
Chúa Giêsu nghe thấy anh ta, Chúa Giêsu gọi anh ta. Ngài nhìn thấy rõ ràng sự đui mù của anh ta và Ngài biết rõ anh ta muốn xin gì, tuy nhiên “Chúa Giêsu đứng lại và nói: Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10:49). Chúa Giêsu có thể chữa lành anh Batimê bằng một lời nói hay một cử chỉ, nhưng Ngài muốn bước vào một mối tương quan thực sự với anh Batimê. Ngài muốn nói chuyện với anh Batimê, hoàn toàn tôn trọng anh Batimê, tôn trọng sự tự do của anh.
“Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy!” (Mc 10:49-50). Ở đây thánh sử Máccô nhấn mạnh tầm quan trọng của những người chung quanh chúng ta, những người truyền đạt lời mời gọi của Chúa Giêsu. Lời mời gọi của Chúa Kitô cho thấy sự quan tâm của Ngài dành riêng cho cuộc đời của mỗi chúng ta, qua những người khác, như cha mẹ, những người thân, những người bạn...
“Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu” (Mc 10:50). Anh ta vất áo choàng lại vì biết sẽ không cần nó nữa. Một lời mời gọi từ bỏ những gì gây vướng víu cho chúng ta để bước theo Chúa Kitô. Anh ta đặt trọn niềm tin vào lời mời gọi của Chúa Giêsu. Bằng cách đáp lại Chúa Giêsu, anh ta đang thực hiện một hành động đức tin thực sự! Và hơn thế nữa, đó là một hành vi đức tin công khai! Và chính nhân danh đức tin này mà Chúa Giêsu đã chữa lành cho anh khi Ngài nói với anh: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10:52). Một lần nữa trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa hằng mong muốn cứu chúng ta nhưng Ngài để cho chúng ta tự do đáp lại. Khi chúng ta tin tưởng đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa ,qua Chúa Giêsu, chúng ta sẽ được cứu như anh Batimê: “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được” (Mc 10:52). Được chữa lành trọn vẹn đến nỗi trong niềm vui của mình, anh Batimê bắt đầu đi theo Chúa Giêsu: “Và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi” (Mc 10:52). Bối cảnh của câu chuyện hôm nay là Chúa Giêsu đang lên Giêrusalem, nơi Ngài sắp hiến mạng sống mình vì tình yêu. Do đó, đáp lại lời mời gọi và đi theo Chúa Giêsu là dấn thân bước theo Chúa Kitô để cùng Ngài bước vào Lễ Vượt Qua của Ngài.
Câu chuyện liên quan đến chúng ta, chạm đến cõi lòng chúng ta. Quả thực khi đứng trước Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta đều mù quáng trước tội lỗi, trước sự khốn cùng của tâm hồn mình! Chúng ta thường tưởng rằng mình trổi vượt hơn người khác, thực ra đó chỉ là ảo tưởng! Chúng ta nhìn vào khiếm khuyết của người khác mà không thấy khuyết tật, thể xác và tinh thần, của chính mình! Trong thâm tâm, chúng ta coi thường những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, những người mà chúng ta cho là “thấp kém” hơn mình, không cùng đẳng cấp với mình. Chúng ta cần học cách canh chừng chính tâm trí của mình, để đừng cản trở ân sủng của Thiên Chúa trong cuộc sống của những người chung quanh và của chính chúng ta. Theo Chúa Giêsu trên con đường Ngài đi là gì? Bao nhiêu người già trẻ, nam nữ, nghèo đói vất vả vẫn còn ở đó, bên vệ đường. Họ nghe thấy những người mang danh Chúa Giêsu đi qua, nhưng họ không thể làm gì khác hơn là chờ đợi một chút tình thương, một cái nhìn cảm thông, một câu thăm hỏi chân tình.
3. Chúa Kitô hiện diện trên con đường của chúng ta
Cuộc sống của chúng ta là một con đường và rất thường khi chúng ta cũng ở bên lề đường mà không thực sự nhìn thấy mình đang ở đâu trong cuộc đời. Chúa Giêsu đang đi trên con đường đó và Ngài cũng hỏi chúng ta: “Các con muốn Ta làm gì cho các con?” Chúa Giêsu, vốn là Thiên Chúa hằng sống, muốn chữa lành chúng ta khỏi mọi điều ngăn cách chúng ta với Ngài, khỏi tất cả mọi điều khiến chúng ta mù lòa trước tình yêu của Ngài; trước sự hiện hữu độc đáo và tuyệt vời của chúng ta trong mắt Ngài, trước vẻ đẹp của sự sống mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta.
Với Batimê, chúng ta được mời gọi “vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu” trong niềm tin tưởng thực sự dâng trào! Hôm nay, cùng với Batimê, chúng ta được mời gọi mạnh mẽ kêu lên cùng Chúa trong đức tin, rời bỏ vệ đường chúng ta đã ngồi kiếm ăn từ lâu, nhận ra rằng điều chúng ta cần nhất là sự sống viên mãn của Thiên Chúa. Thường thì chúng ta tiềm kiếm, cầu xin và chỉ dừng lại ở những nhu cầu trần thế, vật chất ở đời này, nhằm có được một cuộc sống thoải mái, tạo ra các mối quan hệ tốt hơn với người khác hầu đạt được những lợi ích cụ thể. Điều này tự nó không hẳn là xấu, nhưng nó sẽ khiến chúng ta trở nên đui mù một khi đã nhận được ân sủng này, chúng ta tạ ơn Chúa, cách chân thành, nhưng sau đó chúng ta nhanh chóng quay lại chăm sóc bản thân mà không quan tâm gì đến Thiên Chúa nữa. Ở đây qua Batimê, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy điều chúng ta nên cầu xin: buông bỏ cách sống giống như màn đêm tối mù này của chúng ta vì đó là cuộc sống cách xa tình yêu của Thiên Chúa.
Liệu chúng ta có thể nhận ra sự mù quáng của mình, biết rằng chúng ta là tội nhân, và rằng chính “đôi mắt tâm hồn”của chúng ta cần được chữa lành không?
Thật vậy, anh Batimê không xin một công việc, một ngôi nhà hay một thứ gì đó để sống, anh ta xin được chữa lành thị giác để trở thành một con người theo đúng nghĩa con người: “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi” (Mc 10:52), trở thành nhân chứng về quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa cho những người khác. Đây là dấu hiệu đầu tiên của sự chữa lành thực sự. Chúa Giêsu muốn mang lại cho cuộc sống của chúng ta một cảnh vực vượt quá sự tưởng tượng phàm nhân! Chỉ khi quyết định sống theo lời Chúa Giêsu, phục vụ Ngài, phục vụ Giáo Hội, phục vụ người khác, thay vì quay lại sống theo lý lẽ của trần gian, vốn chỉ tập trung vào cái tôi tranh giành ích kỷ của riêng mình, thì con người mới có thể có được sự sống đời đời, chính là nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu của Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô, Đấng “Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài, vì Ngài đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê” (Hípri 5:8-10). mục lục.
Phêrô Phạm Văn Trung
Thông tin trên báo chí (theo VietCatholic News ngày 22-09-2000) về chàng thị trưởng đẹp trai của thành phố Ficarra, mới 34 tuổi, đã lặng lẽ từ nhiệm để đi tu, đã gây chấn động toàn nước Ý. Hôm 20-09-2000, Antonio Mancuso đã chính thức đến trình diện tại một dòng tu ở Milan, bắt đầu cuộc đời một tu sĩ. Antonio cho biết anh đã thấy mình có ơn gọi linh mục từ ngày còn là cậu bé giúp lễ, đã suy nghĩ trong bao năm về vấn đề này và trằn trọc rất nhiều sau khi theo dõi các bài thuyết giảng của Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô 2 trong Đại hội Giới trẻ Thế giới lần thứ 15. Antonio bỏ lại sau mình chức vụ thị trưởng, căn nhà do cha anh để lại, một mẹ già, hai anh em, và thành phố Ficarra xinh đẹp với 2.000 cư dân dưới quyền. Quyền thị trưởng Franco Tumeo đã xác nhận quyết định của Antonio với thông tấn xã ANSA. Ông nói : “Quyết định mà thị trưởng chúng ta đã chọn cần phải được hoàn toàn tôn trọng và hy vọng rằng không ai lợi dụng chuyện đó. Chẳng cần phải nói, chúng ta cầu chúc cho Antonio Mancuso những điều tốt đẹp nhất với xác tín rằng quyết định của anh là hoa trái của những suy nghĩ trong nhiều năm qua.” Quyết định từ nhiệm của anh sẽ khiến cho thành phố Ficarra phải bầu cử lại sớm hơn, có lẽ vào tháng 06-2001. Tạm thời một ủy ban đặc biệt sẽ thay thế công việc của nguyên thị trưởng. Với bằng chính trị học ưu hạng, Antonio đang là một ngôi sao sáng chói của đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo Ý. Anh đã là thị trưởng trẻ nhất của quốc gia này, lúc mới 27 tuổi, từ 1992 đến cuối tháng 9-2000. Ngày 14-09, một tháng kể từ Đại hội Giới trẻ Thế giới lần thứ 15, sau nhiều đêm không ngủ, Antonio đã từ giã tòa thị trưởng chẳng nói với ai một lời nào. Thư từ nhiệm đã được gởi đến văn phòng 2 ngày sau đó qua đường bưu điện.
1. Nhìn thấy Đấng Mê-si-a
Câu chuyện chàng cựu thị trưởng-tân tu sĩ dễ thương vừa thấy là một phiên bản mới của câu chuyện Tin Mừng hôm nay. Trong bản văn này, chỗ đứng của việc chữa lành rất nhỏ bé : không một lời nói hay một cử chỉ thần thông nào cả. Phải chăng Mác-cô muốn quên để nhấn mạnh một phép lạ thuộc loại khác, phép lạ mà ông sẽ cho thấy đặc tính trong ngôn ngữ của riêng ông. Đúng thế, bản văn nằm trong một văn mạch nói về việc Đức Giê-su tiến lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ nạn, đằng sau là nhóm môn đệ miễn cưỡng theo Thầy. Người đã ba lần loan báo sự cố đau thương sắp xảy đến, nhưng các ông vẫn không muốn hiểu, không muốn chấp nhận. Trong viễn tượng thần học này, phép lạ làm cho đôi mắt Ba-ti-mê mở ra có giá trị như một dấu chỉ và việc anh ta bước theo Đức Giê-su lập tức có ý nghĩa như một bài học.
Cuộc chữa lành ấy quả là một thiên phóng sự sống động. Từ giữa đám đông, một anh mù la lớn, người ta bảo anh im lặng, anh càng la to hơn nữa và động đến tâm can Đức Giê-su. Đức Giê-su chờ đợi các tiếng kêu nầy. Người lắng nghe đức tin của chúng ta, Người rung động khi nó mạnh mẽ : “Gọi anh ta lại đây”. Đám đông, đúng là đám đông, lập tức thay đổi thái độ. Mới quát nạt anh đó, giờ lại khuyến khích anh : “Cứ yên tâm ! Đứng dậy ! Người gọi anh đấy !” Tất cả những gì chúng ta gọi là việc tông đồ đều nằm trong sự thúc đẩy này : “Đứng dậy, Người gọi anh đấy”. Thiên Chúa muốn chúng ta biết nói : “Người gọi anh”, biết làm trung gian tốt nhờ luôn thấy nỗi khát khao Thiên Chúa trong những tiếng kêu của con người. Nhưng ước gì chúng ta cũng biết nghe khi ai đó -hay một cuốn sách, một tiếng nội tâm- nói với ta: “Người gọi anh”.
Ba-ti-mê vất áo choàng vướng víu để nhảy tới Đức Giê-su. Ở đây cũng thế, hình ảnh thật sống động. Rũ bỏ những cái ngổn ngang, đứng dậy từ cuộc sống ngồi lì, gỡ mình khỏi những gì giữ ta xa Chúa. Cái áo choàng ấy là vật duy nhất mà người nghèo sở hữu. Vất bỏ nó, Ba-ti-mê đã thực hiện điều mà Đức Giê-su đã không làm được với chàng thanh niên giàu sang : anh đã bỏ mọi sự mà đi theo Người. Đi theo cách nào ? Anh nhảy lên, đứng phắt dậy. Cú nhảy trong đêm tối là cú nhảy đức tin vì mắt anh vẫn còn mù.
Và đó là một đức tin sắt đá. Như mọi người, Ba-ti-mê biết Đức Giê-su là ông thợ mộc làng Na-da-rét. Nhiều kẻ đã vì đó vấp ngã. Phần anh, lớn tiếng bảy tỏ đức tin, anh là kẻ đầu tiên cao giọng tuyên xưng người Na-da-rét ấy là con Đa-vít, Đấng Mê-si-a. Đã ở trong ánh sáng, anh mù kêu : “Thưa Thầy ! Xin cho tôi nhìn thấy được.” Đằng sau khát vọng được nhìn thấy ánh sáng, Đức Giê-su đã nhận ra nơi anh khát vọng được biết nhiều hơn về Đấng Mê-si-a, được nhìn thấy thực tại tối hậu ẩn khuất dưới dáng vẻ bề ngoài. Chính nhờ một đức tin như thế mà quyền năng của Đức Giê-su đã có thể đảo lộn anh toàn bộ. Câu cuối cùng của bài Tin Mừng là câu phải tác động chúng ta hơn hết : “Anh ta đi theo Người”.
2. Bước theo Đấng Tử Nạn
Quả vậy, điều mà câu “Lòng tin của anh đã cứu anh” muốn nói, đó chính là ơn cứu rỗi ta đi vào khi bước theo Đức Giê-su. Ba-ti-mê tìm lại được thị quan và nhiều hơn thế nữa: đôi mắt để thấy Đức Giê-su quá rõ đến nỗi đã muốn nên môn đệ Người.
Đức Giê-su đã không lầm khi nghe tiếng kêu đức tin mạnh mẽ ấy. Đó chưa hẳn là đức tin đầy đủ sẽ triển nở sau Phục sinh. Nhưng Ba-ti-mê đã chắc chắn mình đứng trước Đấng Mê-si-a rồi, đã chắc chắn rằng chính sức mạnh của Thiên Chúa sắp tác động đến anh trong Đức Giê-su và khi điều đó xảy ra, anh chẳng ngập ngừng một phút : nếu Đức Giê-su là sức mạnh của Thiên Chúa thì phải theo Người.
Đó là tấm gương cho các môn đệ, đó là tấm gương cho người đã được thánh tẩy, được soi sáng nhờ gặp gỡ Đức Ki-tô. Ba-ti-mê đi theo Người trên con đường Người đi, con đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường dẫn đến thập giá.
Tóm lại, nghệ thuật của Mác-cô đạt đến đỉnh hoàn thiện ở đây. Hai hình ảnh thật trái ngược nhau: hoàn cảnh ban đầu của Ba-ti-mê (ngồi ở vệ đường, mù lòa, ăn xin) và hoàn cảnh kết thúc (đứng, nhìn thấy, đi trên đường và đem Tin Mừng đi) là nhằm nói lên một biến chuyển quan trọng. Đặt trình thuật này vào lúc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem, dẫn theo bạn bè và đám đông tiến về “ánh sáng” soi rõ hơn thân thế và sứ mạng của Người, rõ ràng tác giả muốn dùng câu chuyện như một minh họa cho thấy nhờ đâu, người ta mới trở nên “môn đệ đích thực”. Môn đệ cần phải để Thầy dẫn đến sự giác ngộ của đức tin. Phép lạ chữa anh mù ở Bết-xai-đa (x. 8,22-26) đã thúc đẩy môn đệ Đức Giê-su khám phá Người là Đấng Mê-si-a. Giờ đây, với phép lạ chữa anh mù ở Giê-ri-cô, Đức Giê-su lại mời gọi họ -những kẻ muốn đi theo Người- hãy mở rộng đôi mắt tâm hồn để đón nhận Đấng Mê-si-a đau khổ và khải hoàn, trong đức tin.
Phần chúng ta, những kẻ biết về Đức Giê-su nhiều hơn Ba-ti-mê, phải chăng chúng ta có đôi mắt để nhìn Người ? Đến độ cảm thấy dâng lên trong mình cái ước vọng từng làm nảy sinh các thánh : “Lạy Chúa, con muốn đi theo Ngài”, cái ước vọng đã khiến ông thị trưởng trẻ tuổi Antonio Mancuso bỏ cả một tương lai chính trị đầy triển vọng để gia nhập một dòng tu.
Trong thực tế, Đức Giê-su thường bị vây quanh bởi nhiều môn đệ mù tối, còn lề đường thì lại đầy những người mù sáng mắt. Nhóm trước bị khép kín trong những bảo đảm vĩnh viễn, bị ràng buộc bởi những tham vọng và vướng mắc nhỏ nhen, bị khống chế bởi nỗi sợ hãi gian khó hay sợ hãi thế quyền. Dẫu mang danh Ki-tô hữu, thậm chí lãnh đạo Ki-tô hữu, họ có thể sống như chẳng hề là môn đệ của một Tôn sư đã dám chịu đau khổ và bị giết chết vì sự thật, công lý và tình yêu. Nhóm sau thì có lòng khiêm nhường và tin tưởng, có đức khôn ngoan để biết luôn luôn lắng nghe, đón nhận những bất ngờ của Thánh Thần và những từ bỏ có sức giải thoát, có lòng yêu mến sự thật đến độ sẵn sàng chấp nhận gian khổ vì bênh vực công lý. Dầu có thể chưa phải là Ki-tô hữu, không là môn đệ Đức Ki-tô trên phiếu lý lịch, họ đã theo Người trên con đường của Người rồi. Vào Nước Trời đâu phải là những kẻ chỉ mở miệng “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” mục lục.
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Tôi muốn phân biệt giữa niềm tin và đức tin. Niềm tin chỉ để nói tới một sự tin tưởng của riêng mình hay một sự tin tưởng vào con người, vào cuộc sống. Đức tin nhắm đến một niềm xác tín nơi Đấng Toàn năng bên trên mình. Cụ thể, tôi muốn suy nghĩ về đức tin Kitô giáo. Vì thế, Đấng Toàn năng mà tôi đặt trọn lòng phó thác là chính Thiên Chúa của mình.
1. NIỀM TIN.
Một ví dụ làm sáng tỏ hơn hai chữ "niềm tin". Vài chục năm trước, báo Tuổi trẻ tổ chức cuộc thi "Viết về cha tôi". Nhiều câu chuyện cảm động do những người con viết về cha mình. Sau cuộc thi, tòa soạn chọn những truyện hay đăng thành sách, lấy tựa đề từ chính một câu chuyện trong các truyện ngắn: "Cao hơn đỉnh Thái".
Đúng là cao hơn đỉnh Thái. Tất cả các truyện ngắn ấy đều cho thấy sự hy sinh cao ngất của những người cha. Hy sinh đến mức quên mìn, quên tất cả những gì thuộc về mình, quên cả đến sự sống của chính mình…
Và "Con heo đất" là một trong những truyện ngắn kể về một tấm gương cao hơn đỉnh Thái như thế. Tác giả Nguyễn Đào Vĩnh Huy cho biết, mình là con nhà nghèo, nghèo lắm. Ngày nhận giấy báo đậu đại học, Huy không dám cho gia đình hay, sợ cái tiệm sửa giày của ba, vốn đã quá chật vật để nuôi đủ sáu miệng ăn, bây giờ lại kham thêm đứa con đi học đại học, Huy không đành. Tác giả cho biết: “Không muốn thấy ba vì tôi mà gầy đi”.
Nhưng cô giáo chủ nhiệm biết tin, đã tới nhà cho hay. Được tin con vào đại học, người cha mừng quýnh. Còn Huy, đưa giấy báo nhập học cho ba mà lòng tưởng như mình đưa cho ba tờ giấy ký nợ.
Vậy là từ đó, người cha âm thầm nhịn ăn, nhịn uống nuôi con heo đất để hằng tháng cho con tiền chi phí. Tác giả viết: "Ba đưa con heo đất lên ngang tầm mắt rồi cười sản khoái chỉ vào tôi: "Con cũng là một con heo đất đấy chứ. Khéo nhé, làm sao đừng để ba bỏ đói". Tôi ngớ người ra một lúc mới hiểu điều ba nói. Vâng! Tôi cũng chính là con heo đất mà hằng tháng ba đã bỏ vào đó 500.000 đồng. Có khác là heo đất thì cất tiền trong bụng, còn tôi thì lại không…".
Niềm tin là thế. Nó rất cần cho đời sống của bạn, của tôi. Nếu không có niềm tin, ta khó vượt qua mọi bấp bênh, mọi chông gai đời mình. Niềm tin là cánh diều lộng gió đưa ước mơ của ta đến cả bầu trời hy vọng, cho ta nghị lực và vững vàng để tiến bước, để vượt thắng mọi chướng ngại của cuộc đời.
Chỉ với một kết luận rất ngắn: "Có khác là heo đất thì cất tiền trong bụng, còn tôi thì lại không…", đủ để tác giả Đào Vĩnh Huy nói lên tất cả niềm tin của hai cha con. Người cha tin vào khả năng, vào tương lai mà chính đứa con của ông mang tới. Còn người con, cũng tự tin vào khả năng vượt khó, vượt khổ với một ý thức nhìn về tương lai. Chính nhờ ý thức này, tác giả mới dám khẳng định: "Còn tôi thì lại không…".
2. ĐỨC TIN.
Nếu chỉ mới là niềm tin, đã cho ta những hiệu quả lớn lao như thế, thì đức tin còn làm nên những phép lạ ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự hiểu biết lớn biết bao nhiêu.
Trong Tin Mừng hôm nay, thái độ của anh mù Bartimê là cả một đức tin chứ không chỉ niềm tin. Đi vào diễn tiến câu chuyện, ta sẽ thấy đức tin của Bartimê là một đức tin lớn, và ngày càng lớn, lớn dần. Đã lớn, càng lớn hơn.
Khởi đầu khi anh ĐANG NGỒI ăn xin, NGHE biết người đi ngang qua là Chúa Giêsu, anh KÊU lên. Nhưng tiếng kêu không dừng lại ở tên Chúa Giêsu, kèm theo đó là tước hiệu "Con vua Đavit": "Hỡi ông Giêsu con vua Đavit, xin thương xót tôi". Khi gọi Chúa là con vua Đavit, anh gán cho Chúa tước hiệu Đấng Messia của Israel.
Trong khi tiếng kêu bị đám đông lấn át, và cùng lúc, người ta cố ngăn chặng tiếng kêu, anh lại càng KÊU TO. Sau cùng tiếng kêu tha thiết của anh chiến thắng. Chúa dừng lại trên nỗi khổ sở của anh.
Bây giờ, sau khi nghe người ta thông báo: "Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh", Bartimê làm một cú NHẢY tuyệt vời. Niềm mừng vui của anh được biểu lộ cùng lúc đến ba động tác: LIỆNG áo choàng, ĐỨNG DẬY, ĐẾN CÙNG Chúa Giêsu.
Cần phải nói thêm nơi động tác thứ hai: bản văn Phụng vụ dịch là: "đứng dậy". Bản văn của nhóm Các giờ kinh phụng vụ dịch là: "đứng phắt dậy". Còn bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn là: "nhảy chồm dậy".
Bạn cứ thử tưởng tượng mà xem: Một người không chỉ sống trong tăm tối, mà còn nghèo khổ, phải đi xin ăn, phải sống nhờ lòng trắc ẩn của mọi người. Đó là chưa nói đến mặc cảm của bản thân, đã vậy còn bị khinh khi, bị xa lánh (qua câu "nhiều người mắng anh bảo im đi" nói lên điều đó). Bởi đó, chắc chắn nỗi cô đơn càng không nhỏ.
Hiểu như thế, ta mới cảm nhận hết sự hồ hỡi của Bartimê. Vì thế, để diễn tả tất cả vui mừng, hạnh phúc, lòng hân hoan, và cả thái độ yêu mến của anh, có lẽ sử dụng động từ NHẢY CHỒM DẬY trong hoàn cảnh này là hay hơn cả.
Một cú NHẢY CHỒM DẬY, còn cho thấy sự luống cuống xen lẫn chút gì kinh ngạc vì Thầy Giêsu, Đấng mà anh tuyên xưng là "Con vua Đavit", là Đấng Messia lại có thể nghe thấu lời kêu xin xủa anh.
Liền một lúc, ba động tác liệng áo choàng, nhảy chồm dậy, đến cùng Chúa Giêsu còn cho thấy thái độ dứt khoát hoàn toàn thuộc về đức tin: Anh chỉ nghe nói Chúa đến với mình, không hề biết Chúa đến từ hướng nào vậy mà vẫn nhảy cẩng lên, để được đến cùng Chúa. Chính thái độ của đức tin thật lớn lao ấy đã làm nên phép lạ. Chúa Giêsu khẳng định trong lời khen ngợi đức tin của anh mù: "Đức tin của anh đã chữa anh"!!
Chính đức tin đã cho anh, dù đang mù đôi mắt, nhưng lại rất sáng tâm hồn, để rồi sau khi nhận được ánh sáng, anh đã bước theo NGUỒN SÁNG là chính Chúa Giêsu, Đấng làm cho anh, cuộc đời anh và mọi người sáng lên, không phải bởi đôi mắt mà là ánh sáng chan chứa, ánh sáng dòi dọi của đức tin.
Thánh Marcô kết thúc bài Tin Mừng bằng một ghi nhận thấu đáo: "Tức thì anh ta thấy được và ĐI THEO NGƯỜI".
"ĐI THEO NGƯỜI" vừa khép lại một hành trình đức tin, vừa mở ra một hành trình mới. Vì hành động ĐI THEO ấy là một giai đoạm mới, mở ra một tương lai mới cần thiết cho cả hành trình đức tin vừa mới khép lại.
"ĐI THEO NGƯỜI": Đấy là điểm kết và là cao điểm của đức tin. Đấy là giai đoạn cuối cùng, là một tổng thể của cả hành trình đức tin. Đấy là cao trào lớn do chính giai đoạn đức tin vừa qua đưa tới. Đấy chính là sự tất yếu của những ai vừa khám phá ra bài học lớn lao của đức tin.
Như vậy một chuỗi tiến trình của đức tin vừa mới hình thành: ánh sáng đức tin của một tâm hồn dẫn tới sự sáng của đôi mắt để rồi trở lại với tâm hồn, đức tin ấy càng tỏa sáng lung linh.
Chúa ra tay giải thoát anh khỏi cảnh tăm tối của đôi mắt. Bằng cách ấy, Chúa lại đưa anh đi sâu vào huyền diệu của đức tin, để từ đây anh theo Chúa.
Niềm tin vào cuộc đời, vào lòng người đưa ta đến thành công trong cuộc sống.
Còn đức tin đưa ta đi trọn cuộc vượt qua mà cuộc đời của mỗi Kitô hữu cần lắm để phóng mình tới bến bờ của tình yêu thường hằng là chính Chúa, nguồn hạnh phúc vĩnh cửu.
Chính trong đức tin cũng đã bao hàm một niềm tin. Người mù khi kêu cầu Chúa Giêsu, giả thiết anh đã có sẵn niềm tin vào con người mang tên Giêsu.
Cuộc sống của bạn và tôi dẫu có thế nào, cũng đừng đánh mất niềm tin trong đời. Chính niềm tin là cái chốt đầu tiên đặt nền tảng cho đức tin.
Nếu bất mãn, thất vọng sẽ khiến cuộc sống nặng thế nào, thì thiếu niềm tin cũng sẽ dẫn tới một đức tin mệt mỏi thế ấy.
Bạn và tôi hãy để cho niềm tin hun đúc đức tin của mình. Và khi đức tin đã được tôi luyện, nó sẽ quay lại củng cố niềm tin trong ta.
Tin là đón nhận ánh sáng để nhìn cuộc đời trong ánh sáng mới. Nói cách khác, đức tin là cặp mắt mới. Cuộc đời vẫn thế. Vẫn những con người, những biến cố, những nỗi niềm. Đức tin chẳng miễn chước một khổ đau nào. Nhưng đức tin lại có sức làm thăng hoa cuộc đời. Dẫu không làm bay hơi bất cứ một sự oằn nặng nào trong ta, nhưng đức tin sẽ giúp ta thánh hóa tất cả những nỗi niềm, những lo toan, gánh vác… Trong đức tin, ta nhận ra như thế, thì đó chính là cập mắt mới của đức tin.
Tin còn là mở lòng đón nhận ơn Thiên Chúa. Đó chẳng phải là trường hợp của người mù Bartimê đó sao. Anh đã mở lòng và đón nhận chính Chúa Giêsu, món quà vô giá của chính Thiên Chúa tặng ban.
Và vì chính Chúa Giêsu là ánh sáng trần gian, nên khi được Chúa hiện diện trong ta, Chúa sẽ làm cho ta càng lúc càng chìm sâu trong ánh sáng, để như người mù Bartimê, ta bước theo ánh sáng của Chúa và nhận lấy niềm tin trong cuộc đời và đức tin nơi tâm hồn.
Chỉ với kinh nghiệm gặp Chúa, ta mới có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống lòng tin và trung thành với đời sống đức tin của mình. mục lục.
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
LẠY CHÚA, XIN CHO CON NHÌN THẤY
Anh chị em thân mến,
Trình thuật nói về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh mù Ba-ti-mê làm tôi nhớ đến câu chuyện của anh Nguyễn Quốc Phong, người mà tôi đã gặp và đem lòng kính phục. Truyện kể như sau.
Anh vốn là một thanh niên đang theo đuổi ơn gọi để trở thành tu sĩ Dòng Salesian và đã bị mù qua một tai nạn giao thông. Và dĩ nhiên, với hoàn cảnh như thế anh không thể tiếp tục ơn gọi để trở thành linh mục. Anh đã xin về nhà. Thoạt đầu, anh không chấp nhận và sống trong nỗi phẫn uất qua biến cố kinh hoàng đã xẩy ra làm biến đổi toàn bộ dự định và nỗi ước mơ của anh.
Trước đây còn đôi mắt để được nhìn thấy mọi sự, nay anh tự học để mò mẫm bằng cây gậy dò đường, thường xuyên bị vấp ngã. Nói chung, anh không còn biết diễn tả thế nào để nói lên tâm trạng và nỗi chán đời của một kẻ bị mù. Thậm chí, đôi khi anh đã có ý nghĩ tự tử. Nhưng sau này anh mới một điều là Chúa không muốn anh chết thì anh phải sống, sống cho có ý nghĩa, sống để hoàn thành lý tưởng mà anh đã theo đuổi, đó là giáo dục giới trẻ.
Anh bắt đầu lại, bước ra khỏi những suy nghĩ tối tăm. Tuy anh không còn đôi mắt để nhìn đời, nhìn người, thì giờ đây anh nhìn cuộc sống bằng con tim, bằng trí tưởng tượng. Anh không còn mắt để nhìn thấy người thì nhìn họ bằng đôi tai. Anh tập lắng nghe để thấu hiểu và thông cảm những nỗi khó khăn của họ. Thời gian cứ thế trôi qua, nhất là với ơn nghĩa của Chúa, Đấng không hề bỏ rơi anh. Người vẫn hiện diện và làm ánh sáng soi đường cho anh bước tới.
Từ đó, “Mái ấm Thiên Ân” hay còn gọi là trung tâm hướng nghiệp dành cho các trẻ em bị khiếm thị được thành hình. Tại nơi đó, anh không chỉ nuôi các em bị mù, mà còn tạo cho các em tay nghề hợp với năng khiếu của các em. Đến khi lớn khôn, chính các em này là những người thầy dậy các em khác. Có nhiều em đến tuổi trưởng thành, đã lập gia đình, vẫn thường xuyên trở về mái nhà Thiên Ân để cùng đồng hành với anh trong công việc nuôi nấng và tạo ra các công ăn việc làm khác cho các trẻ em bị mù lòa. Anh thật xứng đáng là người thầy, người cha kính yêu của gia đình ‘Mái Ấm Thiên Ân’.
Qua truyện kể về mẫu gương sáng lạng của Thầy Phong, tôi khám phá rằng những người mà thân thể của họ tuy bị khiếm khuyết, nhưng nghị lực, ý chí và tấm lòng của họ dành cho các công tác giáo dục, việc bác ái đem lại ích lợi và hạnh phúc cho tha nhân, có thể vuợt xa chúng ta là những kẻ tưởng rằng mình sáng mắt, ai ngờ lại bị khiếm thị. Dành cho họ tấm lòng thán phục và ngưỡng mộ là việc cần; nhưng còn hơn thế nữa, chúng ta nên khám phá nơi họ sự can thiệp của Thiên Chúa, Đấng hiện diện và thường xuyên hoạt động nơi họ.
Anh chị em thân mến.
Trước khi gặp Đức Giê-su, anh Ba-ti-mê không chỉ bị mù mà còn là người ăn xin nữa. Cuộc sống của anh hoàn toàn lệ thuộc vào lòng tốt, sự bố thí của khách qua đường. Việc Đức Giê-su chữa lành cho anh không làm cho chúng ta ngạc nhiên. Bởi vì, cho đến hôm nay không ai trong chúng ta có thể phủ nhận uy quyền của Thiên Chúa hoạt động nơi Người. Tuy nhiên, ý định của Thánh Mác-cô khi sắp xếp trình thuật này khiến chúng ta ngạc nhiên và cần tìm hiểu.
Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã hỏi Gia-cô-bê và Gio-an: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?”
Hôm nay, Người lại hỏi anh Ba-ti-mê: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Hai câu hỏi cùng một ý nhưng cách trả lời lại khác nhau. Lẽ ra, câu trả lời của anh Ba-ti-mê “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” phải là câu trả lời của các môn đệ. Trái lại, các ông đã không xin Chúa ơn soi sáng để nhận biết về con người của Thầy mà lại xin chỗ ngồi tốt, địa vị cao.
Vẫn chưa hết. Sau đây là câu chuyện của Si-môn Phê-rô, vị Tông Đồ cột trụ của Hội Thánh. Phê-rô đã theo Thầy, vượt qua bao cạm bẫy, nhận được bao lời huấn giáo để có thể tuyên xưng Thầy là Đức Ki-tô; thế mà sau khi nghe thầy loan báo về cuộc khổ nạn, ông lại đứng ra ngăn cản Thầy thực hiện ý định của Thiên Chúa, không chấp nhận cho Thầy mình đi vào vinh quang qua cuộc khổ nạn. Vì thế, ông đã bị Chúa khiển trách là ‘Xatan, lui lại đàng sau Thầy.’
Trong khi đó, một con người bị khuyết tật, cuộc sống lệ thuộc vào lòng thương xót của người khác như anh Ba-ti-mê hôm nay, lại đạt được đích điểm khi đã tuyên xưng không chỉ bằng miệng mà còn bằng cuộc sống, là sẵn sàng theo Thầy đi vào Giê-ru-sa-lem, không phải để đón nhận hào quang, mà là để chịu thương khó.
Hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là những người tưởng mình sáng mắt lại trở thành mù tối, còn anh Ba-ti-mê lại trở thành người sáng mắt qua việc gặp gỡ Đức Giê-su. Chính anh đã trở thành gương mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ. Tin và theo Chúa.
Đức tin của anh đã được nung nấu từ lần gặp Đức Giê-su, người mà anh chỉ nghe người ta nói chứ chưa bao giờ được nhìn thấy vì anh bị mù. Chính vì không nhìn thấy bằng mắt phàm cho nên anh phải nhìn Chúa bằng một cặp mắt của niềm tin. Anh tin nơi Đấng mà anh kêu xin, đang đứng trước mặt anh. Anh không xin những đồng tiền bố thí từ Đức Giê-su. Anh nhận ra nơi Người có một quyền năng có thể giúp anh. Anh xin Người dủ lòng thương đến thân phận của anh. Trong khi đó những người sáng mắt theo Chúa như các môn đệ lại không nhận ra điều mà họ cần. Trái lại họ lại hành động như một thứ rào cản, ngăn chận người khác đến với Chúa.
Như vậy có một nghịch lý ở đây là người mù đã thấy được nhiều hơn là người sáng mắt. Và những gì đã xẩy đến cho anh Ba-ti-mê hôm nay cũng là lời mời gọi mà các môn đệ cần phải tìm cho ra câu trả lời trên đường theo Chúa của các ông. Hành trình và nỗ lực để được gặp Chúa của anh Ba-ti-mê cũng là bài học dành cho những ai muốn trở thành môn đệ của Thầy. Sau đây là các bước nhẩy trong hành trình niềm tin của anh.
Trước tiên, chúng ta hãy hình dung ra cảnh anh mù Ba-ti-mê đang ngồi ăn xin. Nơi anh ngồi là vệ đuờng. Không ai chọn các nơi hẻo lánh. Họ phải chọn chỗ đông người qua lại như giữa phố xá, rất nhộn nhịp và là nơi tập trung các khách từ bốn phương tuôn về. Ngày hôm đó, anh Ba-ti-mê nghe thấy nhiều tiếng ồn ào, anh nhận ra có đám đông đi qua chỗ anh đang ngồi. Anh nghe người ta nói rằng trong đám đông, có một người tên là Giê-su, đến từ Na-za-rét, Người đã thực hiện nhiều việc lạ lùng và kỳ diệu. Chỉ cần biết ngần ấy, anh liền la thật to để xin Đức Giêsu giúp đỡ.
Trước hoàn cảnh của anh lẽ ra các môn đệ và đám đông nên nhường đường mở lối dẫn anh vào gặp Chúa. Họ đã không làm như thế, trái lại còn ngăn cản, thậm chí có một số người muốn đuổi anh đi. Tuy nhiên, sự ngăn cản của đám đông không làm cho anh nản lòng. Anh quyết tâm hơn, gào thét to hơn, cho đến khi Đức Giê-su để ý đến anh. Cuối cùng, Người nhận ra anh. Người dừng lại và yêu cầu người ta đưa anh đến.
Nghe đuợc những lời cho phép của Đức Giê-su, anh không cần đợi người ta giúp. Tuy bị mù, nhưng đôi tai của anh rất thính; anh đã nhận ra hướng của Đức Giê-su đang đứng. Lập tức, anh quăng chiếc áo choàng, đang khoác trên người của anh lại đàng sau, rồi đứng phắt dậy để tiến về phía Chúa. Hành động này cho chúng ta nhận ra một điều là anh sẵn sàng buông bỏ tất cả, buông cả chiếc áo hộ thân đã bao bọc anh bấy lâu nay để gặp Chúa.
Nhu cầu đuợc xót thương và niềm tin là động lực và sức mạnh giúp anh vuợt qua mọi trở ngại để gặp Chúa. Đến lúc này, câu hỏi của Đức Giê-su “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” và câu trả lời: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” của anh Ba-ti-mê xem ra hơi dư thừa. Bởi Chúa biết anh đang cần gì rồi. Quả thật cả câu hỏi lẫn câu trả lời không dư thừa chút nào. Bởi vì, với câu trả lời, anh đã trở thành gương mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ của Người.
Sau cùng, câu hỏi của Đức Giê-su dành cho anh mù năm xưa cũng là câu hỏi của Chúa dành cho chúng ta hôm nay: Chúng ta muốn Đức Giê-su làm gì? Và lời đáp trả xin cho chúng con được thấy cũng cần đuợc lập đi lập lại trong cuộc sống của những người môn đệ của Chúa. Chúng ta không xin Chúa ban cho chúng ta nhìn thấy về mặt thể lý cho bằng nhìn ra việc Chúa làm gì trong và cho chúng ta, để mãi mãi chúng ta nhìn ra sứ mạng mà Chúa muốn chúng ta thực hiện.
Xin cho chúng con được nhìn thấy các kỳ công, những việc lạ lùng của Chúa thực hiện trong thân phận mỏng dòn, trong lúc chúng con yếu đuối và cuộc sống bị bao phủ bởi bóng tối và sự dữ. Chúng con tin rằng Chúa là ánh sáng và chỉ có ai để Chúa hướng dẫn thì mắt người đó mới nhìn ra sứ mạng mà Chúa đã trao, và hoàn thành sứ mạng theo như ý định của Chúa mà thôi. Amen! mục lục.
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.