SUY NIỆM CHÚA NHẬT III PHỤC SINH_C

04-05-2025 1,426 lượt xem

Lời Chúa: Cv 5,27b-32.40b-41; Kh 5,11-14; Ga 21,1-9

Mục lục

HIỆN TRẠNG TRUYỀN GIÁO và TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI KITÔ HỮU - + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

HÃY THẮP LỬA VÀ ĐỪNG GỤC NGÃ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐẤNG PHỤC SINH ĐẦY SỰ QUAN TÂM CHU ĐÁO - Phêrô Phạm Văn Trung

LÊN BỜ ĐỂ ĐI LƯỚI NGƯỜI - Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

TIN: MỘT CHUYỆN TÌNH - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

"Hiện trạng truyền giáo và trách nhiệm của mỗi Kitô hữu."

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

HÃY THẮP LỬA VÀ ĐỪNG GỤC NGÃ

Bắt đầu cử hành đêm cực Thánh, đêm Vọng Phục sinh, một khung cảnh tối đen bao trùm trong ngoài nhà thờ, là biểu tượng thế giới chìm trong nỗi chết do tội. Một thế giới vẫn còn đó hận thù, gian trá, tàn bạo, chiến tranh, khủng bố, muốn giải quyết mọi thứ bằng đối đầu, bằng vũ khí… 

Những đen tối của lòng người gieo rắc khổ đau đến nỗi Người Cha Chung của chúng ta, Đức Phanxicô, mãi thổn thức, mãi day dứt. Cho đến sứ điệp cuối cùng, ngay trước lúc ra đi, Đức Thánh Cha vẫn lên tiếng:

"Bao nhiêu ý muốn gây chết chóc mà chúng ta thấy mỗi ngày trong những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới! Bao nhiêu bạo lực chúng ta thường thấy ngay trong các gia đình, đối với phụ nữ và trẻ em! Bao nhiêu sự khinh miệt đôi khi dành cho những người yếu thế, những người bị gạt ra bên lề, những người di cư!... 

Xin đừng bao giờ đánh mất nguyên tắc nhân đạo làm trụ cột cho hành động hằng ngày của chúng ta. Trước sự tàn bạo của những cuộc xung đột nhắm vào thường dân vô tội, tấn công trường học và bệnh viện cùng các nhân viên cứu trợ nhân đạo, chúng ta không thể quên rằng những mục tiêu bị tấn công không phải là đồ vật, mà là những con người có linh hồn và nhân phẩm" (Sứ điệp Phục Sinh 2025)...

Thế rồi giữa cảnh tăm tối, thừa tác viên thắp sáng và rước nến Phục Sinh Nến Phục Sinh được thắp sáng tượng trưng cho Chúa Kitô. Vì lý do đó, thừa tác viên lặp đi lặp lại: "Ánh sáng chúa Kitô". 

Ánh sáng Chúa Kitô tới đâu, đẩy lùi bóng tối tới đó. Người tham dự lấy lửa từ Lửa Phục Sinh thắp sáng từng ngọn nến trên tay. Ngọn lửa từ Lửa Phục Sinh khiến cả nhà thờ ngập ánh sáng, không gian hết chìm trong tối tăm. 

Nếu bạn và tôi biết thắp lên niềm tin vào Chúa Phục Sinh trong cuộc đời mình, và sống niềm tin ấy bằng một đức mến mãnh liệt vào Thiên Chúa giàu lòng yêu thương, là chúng ta thắp lên Ánh sáng Chúa Kitô cho cuộc đời. 

Chỉ có ai sống đức tin như ánh lửa cháy sáng, người ấy mới có thể yêu mến Chúa một cách chân thật. Chỉ có lòng yêu mến trong đức tin, mới nhận ra Đấng Phục Sinh hiện diện trong đời mình.

Thánh Gioan tông đồ là người đã tin và đã yêu như thế. Ngay trong lễ Phục sinh đầu tiên, nhìn mộ trống, trước những phụ nữ là những người phát hiện mộ trống, trước cả thánh Phêrô, người vào thăm mộ trước, thánh Gioan đã tin. 

Hôm nay, một lần nữa, Tin Mừng lại cho biết tầm quan trọng của cảm thức đức tin và sự cần thiết của một đức mến nồng nàn. 

Có ai ngờ, suốt đêm cực nhọc đánh cá, các môn đệ không bắt được con cá nào, thì bây giờ, khi trời bắt đầu rạng sáng, một người lạ xuất hiện, dạy các ông: "Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được". Không hiểu sao, dù chỉ thấy đó là "người lạ", các môn đệ lại nghe, để cuối cùng, thu được một kết quả quá bất ngờ: "Lưới đầy toàn cá lớn". 

Thánh Gioan cũng lại là người phát hiện chúa Phục Sinh trước các anh em. Sau mẻ cá đầy ắp như muốn rách tung chiếc lưới, "Người môn đệ Chúa yêu" thật hãnh diện mà cả quyết: "Chúa đó". 

Vì "Người môn đệ Chúa yêu" đã có sẵn một lòng yêu mến Chúa, một đức tin từ kinh nghiệm sống với Chúa, nên đã nhận ra Chúa cách hết sức dễ dàng. 

Cũng thế, không ai trong bạn và tôi lại cho rằng mình không có đức tin, không có lòng yêu mến Chúa. 

Nhưng nói là nói như vậy. Hiểu là hiểu như thế. Thực tế của cuộc đời, không ít lần, chúng ta dường như chao đảo, dường như mất sức sống. Đức tin vào Chúa, lòng yêu mến Chúa của mình có lúc như bị đánh gục, như tuyệt vọng. 

Bạn ạ, trong đêm rước nến Phục Sinh, chỉ đi từ cuối nhà thờ lên cung thánh, một đoạn đường ngắn, vậy mà ngọn lửa chực tắt mấy lần. Đã có những cây nến trên tay người tham dự tắt ngúm, phải lấy lại lửa từ anh chị em bên cạnh.

Tôi nhìn thấy ngọn lửa mong manh ấy chính là hình ảnh của đức tin, của lòng mến nơi bạn và tôi. Nếu có lúc đức tin tắt ngúm, lòng mến chết lạnh, hãy tìm cách lấy lại ngay. Lấy lại bằng chìm đắm trong cầu nguyện, đừng tuyệt vọng. Vì nếu có lúc đức tin và lòng mến càng trở nên tối tăm bao nhiêu, chúng ta càng phải đến gần Chúa nhiều hơn bấy nhiêu. 

Hoặc khi tắt lửa, ta lấy lại lửa từ anh chị em, thì cũng hãy nhìn những tấm gương sống đạo đức, thánh thiện của anh chị em mà vững tin, mà yêu mến Chúa hơn. Nhất là xung quanh chúng ta có biết bao nhiêu anh chị em bất hạnh: mù lòa, tật nguyền, nghèo đói… nhưng họ vẫn tin Chúa, vẫn sống đạo. Họ chính là bài học sống, dạy chúng ta tin và yêu Chúa.

Hãy tin và hãy yêu để bạn và tôi cũng trở thành những môn đệ Chúa yêu. Từ đó nhận ra Đấng Phục Sinh trong cuộc đời mình, trong mọi hoàn cảnh mà chúng ta phải đối mặt với nó. 

Chỉ cần đức tin, chúng ta sẽ được tăng thêm lòng mến. Khi có đức mến, tự nhiên đức tin cũng sẽ được bồi đắp. Và khi tin tưởng vào Chúa trong một tình yêu, chúng ta sẽ thấy Chúa hiện diện với mình.

Như vậy Lửa không chỉ là ngôn ngữ biểu tượng của việc công bố Tin Mừng Phục Sinh, không chỉ là ngôn ngữ biểu tượng để diễn tả đức tin và tình yêu của Hội Thánh. Nó còn là ngôn ngữ biểu tượng của lòng yêu mến Thiên Chúa, của đức tin, của sự gặp gỡ và đón nhận Chúa Kitô đang hiện diện, không phải chỉ trong lễ Phục Sinh nhưng trải dài suốt cuộc đời từng người. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐẤNG PHỤC SINH ĐẦY SỰ QUAN TÂM CHU ĐÁO

Hôm nay chúng ta được Tin Mừng kể về Chúa Giêsu phục sinh hiện ra lần thứ ba với các môn đệ, trên bờ Biển Hồ Tibêria, với mẻ cá kỳ diệu (Ga 21:1-19). Sau những ngày khổ nạn và cái chết khủng khiếp của Chúa Giêsu, các tông đồ trở lại công việc thường ngày của họ: đi đánh cá. Chắc chắn họ thấy những chuyện đã xảy ra thật là khó hiểu. Có lẽ họ vẫn còn hoang mang, và sống trong một nỗi buồn như một đêm tối bao phủ. Thêm nữa, việc đánh cá tối nay chẳng mang lại kết quả gì. Mọi thứ dường như đã kết thúc, nhưng ngay lúc đó Chúa Giêsu lại đến tìm kiếm các môn đệ của Ngài. Chính Ngài là người đi tìm gặp họ. 

1/Thiên Chúa đến với chúng ta

Tin Mừng hôm nay bắt đầu vào ban đêm. Đây là thời điểm thích hợp để bắt cá. Đối với Thánh Gioan, ban đêm không chỉ hiểu theo nghĩa đen, mà còn ám chỉ đêm tối bên trong tâm hồn, sự vắng mặt của Thiên Chúa, sự cô đơn và khốn cùng, sự cám dỗ: “Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối” (Ga 13: 30). Cõi lòng các tông đồ bị sự tối tăm bao phủ, đó là trạng thái tâm hồn của các ông: “Nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả” (Ga 21: 3). Họ vẫn còn sợ hãi, mặc dù họ đã rời khỏi căn phòng có “các cửa đều đóng kín” nơi họ đã thấy Chúa Kitô Phục sinh “đến đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em!” (Ga 20: 19. 26). Họ trở về Galilê, nơi họ gặp Chúa Kitô lần đầu tiên, nơi họ đã từ bỏ mọi thứ để theo Ngài. Việc không bắt được gì trong chuyến đánh cá này càng khiến họ cảm thấy mình bất lực, không thể có được những gì họ mong muốn. Hẳn họ vẫn còn nhớ mẻ cá lạ lùng mà họ có được trong những ngày đầu họ đi theo Rabbi Giêsu, và có lẽ họ đang âm thầm mong sự xuất hiện của Đấng có thể đem lại cho họ thứ mà họ không thể đem lại cho chính mình. Đêm tối đang dần chuyển sang bình minh, và “Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đứng trên bãi biển” (Ga 21: 4).

Sáng nay, chính Chúa Kitô đã xua tan bóng tối của chúng ta: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5). Chúa Giêsu có mặt “nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu” (Ga 21: 4) đúng như thánh sử Gioan đã khẳng định ngay từ đầu sách Tin Mừng của Ngài: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Ngài ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài” (Ga 1: 9-10). Ngài cất tiếng gọi họ: “Này các chú” (Ga 21: 5). Xin cho chúng ta có thể nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh và nghe được tiếng Ngài gọi trong đời sống mỗi ngày của chúng ta.

2/Nhận ra Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh. 

“Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó!” (Ga 21: 7). Trước đây, thánh Gioan là người đầu tiên nhận ra Chúa Giêsu đã sống lại: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20: 8). Nay qua mẻ cá kỳ diệu này, hoặc qua giọng nói mà ông rất quen biết, hoặc qua ký ức về mẻ cá đầu tiên, nhưng trước hết chính qua mối tương quan “thương mến” (Ga 20: 2) rất riêng của ông với Thầy Giêsu mà Gioan có đủ sự nhạy bén để mau chóng nhận ra “Chúa đó” (Ga 21: 7). Còn thánh Phêrô, vốn có lòng nhiệt thành hơn, nên ông “vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển đã đến với Chúa” (Ga 21: 7). Vấn đề là các ông đã nhận ra “Chúa và Thiên Chúa của họ” (Ga 20:28). Chính Chúa Kitô Phục Sinh đã tỏ mình ra cho họ. Như thế không chỉ có một, nhưng nhiều phép lạ xảy ra, từ không có con cá nào trở thành có đủ các loại “cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con” (Ga 21: 11), từ không biết đến nhận ra được Chúa Kitô Phục Sinh trong cuộc mưu sinh của đời mình: “các ông biết rằng đó là Chúa” (Ga 21:12), từ “không bắt được gì cả” đến “Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” (Ga 21: 9). Chính Chúa Phục Sinh phục vụ các ông: “Chúa Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Ngài cũng làm như vậy” (Ga 21: 13). 

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy chúng ta không dễ nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh trong đời sống hàng ngày biết chừng nào. Chúng ta hiểu rất ít về Đấng Phục Sinh. Ngài vượt quá xa chúng ta dù Ngài vẫn rất gần gũi và chân tình với chúng ta. Không phải bởi lý luận nhưng trên hết chính bởi tình yêu thương mà chúng ta nhận ra và biết Ngài, như Thánh Gioan, “người môn đệ được chúa Giêsu thương mến” (Ga 21: 7). 

Chúng ta cũng cần sự giúp đỡ của Chúa Giêsu để nhận ra Ngài luôn sống trong cuộc đời của chúng ta, và có được kinh nghiệm về Đấng đã khẳng định: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11: 25). Ngài sống và có mặt luôn mãi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta và mời gọi chúng ta đến với một cuộc sống mới, là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta hãy chú ý lắng nghe tiếng Chúa, đặt tất cả niềm tin tưởng nơi Ngài; “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1: 37). Chúng ta cùng nhau cất tiếng ca tụng: “Chúa nay thực đã phục sinh, Allêluia.” 

3/Vâng theo Đấng Phục Sinh đem lại kết quả dồi dào

Bất ngờ, một người “đứng trên bãi biển…nói với các ông: Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” (Ga 21: 4-6). Và, vâng theo lời người đàn ông này, mẻ cá “không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá…Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con” (Ga 21: 6-11). 

Hôm nay, Đấng Phục Sinh đi tìm gặp các môn đệ của Ngài. Ngài đến để tập hợp họ lại và an ủi họ bằng sự hiện diện của Ngài. Giống như thế, Chúa Giêsu không để chúng ta đơn độc. Ngài liên tục đi tìm gặp và có mặt đúng thời đúng chỗ để giúp đỡ chúng ta. Chúa Kitô vẫn có mặt nơi sâu thẳm cơn đói khát nhiều mặt trong cuộc sống của chúng ta, khi chúng ta bị nỗi tuyệt vọng áp đảo. Ngài tìm kiếm và mời gọi chúng ta đến với Ngài để được nuôi dưỡng và dự phần vào sứ mệnh “Hãy chăm sóc đàn chiên của Thầy” (Ga 21: 17).

Từ khi Chúa Giêsu sống lại, các tông đồ có vè như giữ khoảng cách với Chúa Giêsu. Vị Thầy rất thân quen trước đây của họ nay rất lạ và nhiệm mầu. Các tông đồ không dám tiếp tục ứng xử với Chúa Giêsu theo thói quen trước kia của họ nữa, dù “các ông biết rằng đó là Chúa”, nên “Không ai trong các môn đệ dám hỏi Ông là ai?” (Ga 21: 12). Sự hiện ra của Chúa Giêsu với các tông đồ được biểu lộ qua những dấu hiệu nhiệm mầu nhưng hiển nhiên đến nỗi không ai dám phủ nhận, hoặc thậm chí nghi ngờ. Sự nhiệm mầu đó đã tạo ra một sự kính sợ nơi các ông đối với Ngài. Tuy nhiên, Chúa Giêsu với lòng nhân từ vốn có nói với họ: “Đem ít cá mới bắt được tới đây” (Ga 21: 10) và mời họ: “Anh em đến mà ăn!” (Ga 21: 12). Đó là bữa sáng mà Ngài đã chuẩn bị cho họ. Đó là bữa ăn dành cho các tông đồ, và cho tất cả những ai bước theo các ông, tượng trưng cho niềm vui trên thiên đàng mà một ngày nào đó họ sẽ vui hưởng muôn đời, như ngôn sứ Isaia tiên báo: “Ngày ấy, trên núi này, Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25:6), hoặc như sách Khải huyền khẳng định: “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19:9). Bữa ăn sáng đạm bạc này như muốn nhắc lại cho các tông đồ sứ mệnh Thầy Giêsu đã giao cho các ông: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5: 4) và: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1: 14) mà dường như các ông đã quên mất khi trải qua những biến cố bi thảm của Thầy mình. Chúa Giêsu đang chuẩn bị các môn đệ của Ngài cho những sứ vụ tương lai của các ông. Chính qua tình yêu khiêm hạ đối với Chúa Kitô mà Phêrô, các Tông đồ và mỗi người chúng ta trong Giáo hội được trao cho sứ vụ “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21: 17). Lời Chúa Giêsu kêu gọi Phêrô cũng là lời Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta. Tất cả chúng ta đều thuộc về đàn chiên của Chúa Giêsu, và chúng ta được kêu gọi chăm sóc lẫn nhau. Chúng ta được kêu gọi để biến tình yêu của chúng ta dành Chúa Giêsu trở nên cụ thể bằng cách chăn dắt và nuôi dưỡng các chiên con của Ngài, về mặt tinh thần, tình cảm cũng như thể chất, như cùng nhau đọc kinh chung trong gia đình, trong khu xóm, hội đoàn, và dành thời gian thăm hỏi, giúp đỡ nhau, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau, như những người thân thiết.

Chúng ta có thể làm được gì nếu không có Chúa Kitô? Không làm được gì, hoàn toàn không làm được gì. Không có Ngài, cuộc sống của chúng ta sẽ trống không, “không bắt được gì cả” (Ga 21: 3). Chúng ta có tin chắc rằng nếu không có Chúa Giêsu, cuộc sống của chúng ta sẽ mất đi sắc màu vui tươi, nhưng khi có Ngài thì mọi việc sẽ đổi khác không? Chỉ khi liên hệ sâu xa và nghe Lời Đấng Phục Sinh thì những phép lạ mới có thể xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Vâng theo Chúa Kitô, Ngài sẽ không để chúng ta thiếu gì. Nhưng liệu chúng ta có muốn từ bỏ những suy nghĩ vị kỷ, những mưu tính cá nhân, lối sống tục hóa, rồi ra đánh mất ý nghĩa tối hậu của cuộc đời mình vì “không bắt được gì cả” (Ga 21: 3), để vâng lời Thiên Chúa, tin và vui mừng làm chứng rằng Chúa Giêsu Phục Sinh là Đấng Cứu Độ mọi người không? 

Xin cho chúng ta, như trong bài đọc thứ hai, có được “quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” (Cv 4: 33) để sống như lời rao giảng của thánh Phêrô và các Tông Đồ: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. Chúa Giêsu đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Ngài trỗi dậy, và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Ngài lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Israel ơn sám hối và ơn tha tội. Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Ngài” (Cv 5: 29-32). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

LÊN BỜ ĐỂ ĐI LƯỚI NGƯỜI

Chúng ta đang ở trong Mùa Phục Sinh, mùa của niềm vui và hy vọng ngập tràn  vì Chúa đã sống lại. Niềm vui này không phải là một cảm xúc hời hợt chóng qua, nhưng là niềm vui có sức sống mới do Chúa Kitô Phục Sinh ban cho những ai tin tưởng bước đi với Người

Phụng vụ Chúa nhật thứ III sau Đại lễ Phục Sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta tích cực gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh. Gặp được Chúa sẽ có niềm vui và hy vọng. Chúa đã sống lại chính là niềm hy vọng của chúng ta, Người khơi dậy lên trong chúng ta niềm hy vọng giữa một thế giới đang bị bao trùm bởi bóng tối nhuốm màu thất vọng.

Bị đánh vẫn vui

Sách Công Vụ Tông Đồ kể lại việc hai thánh Phêrô và Gioan từ những tông đồ nhát đảm sợ sệt khi chứng kiến Chúa Giêsu, Thầy mình bị bắt bị đánh đòn và bị treo chết trên thập giá khiến các ông buồn sầu thất vọng. Gặp được Chúa Phục Sinh, với ơn Chúa Thánh Thần, ban cho các ông một tinh thần mới, đầy lửa mến và sức mạnh để các ông đã trở nên những người mạnh bạo rao giảng Danh Chúa Giêsu ngay giữa hội đường Do thái, dù trước đó vì rao giảng Danh Chúa Giêsu mà các ông bị Thượng Hội Đồng Do Thái bắt và đánh phạt. Sau khi được thả ra, các ông sung sướng vì đã có dịp chịu khổ vì Danh Chúa Giêsu, và tiếp tục rao giảng Danh Người (x.Cv 5, 27b-32.40b-41).

Đang thất vọng trở thành tông đồ đầy hy vọng

Tin Mừng theo Gioan (Ga 21,1-14) mô tả : Các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến lúc “Simon Phêrô nói với anh em : “Tôi đi đánh cá đây”. 

Tôma, Nathanael và các con ông Giêbêđê cùng hai môn đệ nữa đang ở với nhau nói rằng: “Chúng tôi cùng đi với ông” (Ga 21,3). 

Phêrô một con người rất bộc trực, nóng nảy, hay sa ngã và sa ngã thậm tệ. Có lần Chúa đã gọi ông là Satan, ông đã chối Chúa tới ba lần. Nhưng con người đầy khuyết điểm ấy Chúa đã chọn làm “Đá tảng”, thủ lãnh của Giáo Hội. Vai trò lãnh đạo của Phêrô được tỏ rõ trong bài Tin Mừng hôm nay:

Sau biến cố Phục Sinh, các tông đồ trở về đời sống thuyền chài. Phêrô vẫn là người quyết định : “Tôi đi đánh cá đây”. Các môn đệ khác cũng đồng tình: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Đêm ấy, không bắt được con cá nào. Trời sáng, theo lời người khách lạ, thả lưới bên phải mạn thuyền, một mẻ cá bất ngờ. Khi vừa nghe Gioan nói : “Chính Chúa đó!” Phêrô liền khoác áo vào và nhảy xuống biển (Ga 21,7). Chúa Giêsu Phục Sinh đã biến các ông là những người đang thất vọng trở thành tông đồ đầy hy vọng.

Trở nên thừa sai của niềm hy vọng

Một chi tiết rất hay đáng chúng ta lưu ý là: "Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bời biển" (Ga 21,4). Biển là gì nếu không phải là biểu tượng của thế gian đang bị xô đẩy bởi những con sóng dữ dội và những vòng xoáy của ba thù? Và bờ biển ở đây là gì, hả chẳng tượng trưng cho sự sống đời đời đó sao ? Các môn đệ đã vất vả, cực nhọc suốt đêm trên biển để đánh bắt cá, đương đầu với những con sóng của cuộc sống hay chết, nhưng Đấng Cứu Chuộc chúng ta, sau khi sống lại, Người đứng trên bờ. Theo thánh Grêgôriô Cả (540-604), Giáo hoàng, Tiến sĩ Hội Thánh giải thích thì : Chúa Giêsu đứng trên bờ, vì sau khi sống lại, Người đã vượt qua các điều kiện của một xác thịt mong manh hay hư nát, Người đứng trên bờ để nói cho các môn đệ về mầu nhiệm phục sinh, rằng : "Thầy không hiện ra với anh em trên mặt biển nữa (x. Mt 14,25), bởi vì Thầy không còn ở với anh em trong lúc biển gầm bão tố nữa". Phê rô nhận ra Chúa, ông lại nhảy xuống biển, trong khi đó Chúa ở trên bờ để kéo các ông lên bờ và biến các ông từ nay trở thành những kẻ lưới người ở trên bờ, chứ không lưới cá ở dưới nước nữa. (Trích Homélies sur l'Évangile, n°24)

Chúa Giêsu Phục Sinh đã cách mạng hóa cuộc sống của họ và biến đổi lịch sử con người ở mọi nơi mọi thời. Các Tông Đồ thấy mình thất bại. Trong lưới của Phêrô và các môn đệ, người ta nhận ra sự kiệt sức, gần như đầu hàng, không hướng về Thiên Chúa, nhưng lại đối diện với sự nghèo nàn của chính họ. Lưới không cá. Chúa gặp gỡ họ lúc họ đang ở biển, là nơi mà tâm trí họ nặng trĩu vì những thử thách gian truân của cuộc đời; Người gặp họ vào rạng sáng ngày sau khi họ vất vả cực nhọc vô dụng suốt đêm. Chúa bảo họ thả lưới ở "phía bên kia" thuyền. Bên của sự vâng lời. Tấm lưới của Phêrô đã được thả xuống từ một phần của tình yêu Chúa và hy vọng của các ông.

Chúa hiện đến khơi dậy niềm hy vọng đang bị bao trùm các ông. Qua đó, Chúa muốn chúng ta là những người đã chịu Phép Rửa tội, những môn đệ truyền giáo của Chúa Kitô, hãy tỏa sáng hy vọng của Người ở mọi nơi trên thế giới. Tính cấp bách của sứ vụ truyền giáo mang lại hy vọng. Chúa mời gọi chúng ta trở thành những “nghệ nhân của hy vọng” và những người kiến tạo lại nhân loại, vốn đang chìm đắm trong sự phân tâm và bất hạnh.

Lạy Chúa Giêsu! Chúng con tin và hy vọng vào tình thương Chúa dành cho các tông đồ xưa cũng vẫn dành cho chúng con ngày nay. Xin cho con vững tin vào tình thương ấy khi bình yên cũng như lúc sóng gió. Xin cho con luôn vui mừng và hy vọng loan truyền tình thương cứu độ của Chúa đến cho muôn người. Amen. mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

TIN: MỘT CHUYỆN TÌNH

Trang Tin Mừng tuyệt đẹp của thánh Gio-an hôm nay tỏ lộ cho ta một điều rất cơ bản. Cuộc phục sinh của Đức Giê-su đã làm dấy lên nhiều tranh luận: các nhà duy lý nói nó bất khả, các nhà thần học thì viết đủ bộ sách về chủ đề khó khăn ấy. Nhưng phần Đức Giê-su phục sinh, trong câu chuyện ta đang đọc, thì chỉ đơn giản yêu cầu một sự gắn bó nghĩa tình: “Này Phê-rô, anh có yêu mến Thầy không?”

Chính Tình Yêu Mở Đôi Mắt Của Đức Tin

Người ta thường nói: lòng tin có 3 mức độ: tin có, tin lời và tin người. Xin đan cử vài ví dụ: thiên hạ tin có Ông Trời, tín hữu tin có Thiên Chúa, ma quỷ cũng tin như vậy. Tin có như thế nhưng chưa chắc đã mến yêu. Một thiếu nữ quen với một chàng trai, tin lời anh ta nói có bằng cấp này, gia sản nọ, có tình yêu chân thật dành cho cô; nhưng khi anh ta rủ đi vào khách sạn thì cô quyết liệt từ chối, bởi lẽ cô chưa tin con người của anh, chưa thấy tình yêu của anh được một kiểu cam kết nào đó bảo đảm, và bản thân cô cũng chưa thể biết anh ta cách trọn vẹn và yêu anh ta cách đúng nghĩa. Tin người đi liền với yêu người vậy!

Sang ví dụ Tin Mừng. Chẳng gây ấn tượng sao việc ngư phủ đầu tiên nhận ra kẻ vô danh đang đứng trên bờ hồ, chính là Gio-an, người tự xác định là “môn đệ được Đức Giê-su thương mến.” Y như trong câu chuyện mồ trống, nơi ông đã chạy nhanh hơn Phê-rô, nay ở đây ta cũng thấy Gio-an vượt trước vị phụ trách của mình: vì được mến yêu, vi yêu mến nhiều... nên ông là người đầu tiên nhận ra bạn hữu chí thiết.

Đấy là một kinh nghiệm chúng ta thường có trong cuộc sống. Giữa một đám đông, đôi mắt chúng ta, theo bản năng, chọn lọc ra vài khuôn mặt: những người chúng ta từng gặp gỡ. Nhận ra ai, đó là một chuyện tình cảm. Đừng hỏi một vị hôn thê (vợ chưa cưới) làm sao cô lại nhận ra “tình yêu” của mình qua vài chi tiết nhỏ mà chỉ mình cô mới để ý.

Đức tin/lòng tin cũng vậy, trước hết không phải là chuyện tin vào nhiều ý tưởng nhưng là tín nhiệm một người nào đó. Người ta thường nói đến đức tin/lòng tin như một sự tán thành nhiều chân lý. Không sai. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thấy tin trước hết là gắn bó tình yêu với một con người. Việc này không tạo ra chân lý, nhưng giúp thấy chân lý nhanh hơn, hoàn toàn hơn, tích cực hơn, Chỉ có kẻ đang yêu mới hiểu người mình yêu cách rõ rệt.

Phải thêm rằng việc hiểu biết con người có bản chất hoàn toàn khác với việc hiểu biết sự vật. Để hiểu biết cách khoa học một đồ vật, người ta cân đo nó, phân tích nó. Nhưng tri thức này, rốt cục, vẫn hời hợt. Một con người, dù sao, không thể chỉ được biết theo cách ấy. Nhà bác học vĩ đại nhất trên thế giới sẽ chẳng bao giờ biết được những bí mật của vợ mình, nếu bà không tỏ lộ cho ông. Và bà sẽ chỉ tỏ lộ cho ông nếu bà yêu ông. Phương cách duy nhất để thực sự biết một con người, đó là lắng nghe đương sự, khi đương sự mở lòng cho ta cùng thổ lộ cho ta những gì sâu kín nhất trong con tim đương sự, vả ta sẵn sàng tin vào. Vâng, chính tình yêu giúp cho chúng ta thấu hiểu. Một con người chỉ được biết rõ khi được ta tin yêu. (Xin xem bài “Biết nhờ tin nhân chứng” kèm theo).

Chính Đức Tin Mới Đáp Lại Tình Yêu Thực Sự

Thiên Chúa không phải là một vấn đề. Đó là một Đấng “đứng trước cửa và gõ để vào” nếu ta mở ra cho Người (x. Kh 3,20). Người sẽ chẳng vào bằng vũ lực. Ta sẽ chỉ mở ra cho Người nếu yêu mến Người.

Hãy ý thức về sự khác biệt lớn lao giữa hai loại câu hỏi: “Này các chú, không có gì ăn ư?” và “Này Phê-rô, anh có yêu mến Thầy không?” Trước câu hỏi thứ nhất, người ta trả lời bằng một nhận định mang tính thường nghiệm. Trước câu hỏi thứ hai, người ta chỉ trả lời được nếu có lòng thương mến.

Thế mà mọi câu trả lời của đức tin chúng ta đều thuộc loại thứ hai: “Anh  có muốn Giao ước với Thầy không? Có muốn yêu Thầy không? Có tin vào Thầy không? Anh có muốn tín nhiệm Thầy và sống với Thầy từ đây không?”        

Đức tin thành thử không phải là một chọn lựa thuần túy của trí tuệ; đấy là một sự dấn thân, cam kết đối với ai đó, y như kiểu một vị hôn phu (chồng chưa cưới) cam kết bản thân khi nói: “Tôi tin vào vị hôn thê của mình, tôi hoàn toàn tín nhiệm nàng, và tôi sẵn sàng dấn thân để ở với nàng mãi mãi.”

Và khi Phê-rô đã trả lời Đức Giê-su: “Vâng, Thầy biết con thương mến Thầy”, chúng ta hiểu rằng điều đó đã lôi ông đi rất xa. Ông đã lãnh trách nhiệm về đàn chiên của Đức Giê-su, tức Giáo hội.... và ông đã thực sự theo Đức Giê-su cho tới cùng, cho tới chứng tá tử đạo. (“Bị thắt lưng và dẫn đi” nghĩa là bị quân lính buộc dây vào người, lôi đến nơi đóng đinh, đang khi hai tay bị trói vào thanh ngang thập giá mà mình phải vác).

Không, đức tin trước hết chẳng phải là một danh mục các ý tưởng, các chân lý, song là việc “biết ai đó”, một sự hiểu biết phải tiến triển bằng việc lui tới gặp gỡ con người này. Chính nhờ cố sức sống với kẻ ta thương mến mà ta khám phá ra nhiều khía cạnh mới của bản thân đương sự. Lạy Chúa, xin giúp chúng con yêu mến Ngài, để chúng con tin vào Ngài hơn nữa.

“Này Phê-rô, anh có yêu mến Thầy không?” Thay tên mình vào tên Phê-rô, tôi lập tức nghe Đức Giê-su giao phó cho mình một trách nhiệm! Tôi nghĩ đến các trách nhiệm của mình đối với những con người mà tôi phải chăm lo: gia đình, lớp dạy, cộng đoàn, giáo xứ... mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan