SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH_A
Lời Chúa: Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12
HÃY TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ THỪA SAI NGAY HÔM NAY! – ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
MUÔN DÂN ĐƯỢC THẤY ÁNH SÁNG – + ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên
HÃY SỐNG ĐƠN SƠ VÀ HIỀN LÀNH – Lm. Đa Minh Phạm Tĩnh, SDD
AI TÌM AI: TA HAY CHÚA? – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
CHÚA HIỂN LINH – SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI TÍN HỮU – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ CHIẾU SOI MUÔN DÂN – Phêrô Phạm Văn Trung
THIÊN CHÚA TỎ MÌNH VÀ CON NGƯỜI TỰ CHE MẮT – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
HÃY TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ THỪA SAI NGAY HÔM NAY!
+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Ki-tô hữu chúng ta vốn là dân ngoại, nhưng nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta được tháp nhập vào dân riêng của Thiên Chúa. Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa nhờ việc đón nhận Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể (x. Ga1.12-13). Thánh Phao-lô viết: “Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại thành một; Người đã hy sinh thân mình phá đổ ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,13-14). Quả vậy, từ nguồn gốc dân ngoại, Bí tích Thánh tẩy đã làm cho chúng ta được tháp nhậm vào dân Ít-ra-en mới, là dòng dõi Áp-ra-ham trong đức tin.
Thánh Mát-thêu thuật lại sự kiện ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su mới sinh tại Bê-lem. Các ông đại diện cho phương Đông, là thế giới mà người Do Thái thường gọi là “dân ngoại”. Ngôi sao lạ đã hướng dẫn các ông thờ lạy vị Vua mới sinh. Điều kỳ lạ là, các ông lên đường với mục đích chiêm ngưỡng một vị vua, và chắc các ông mường tượng vị vua đó sẽ ngự trên ngai vàng điện ngọc lộng lẫy. Nhưng không phải vậy. Khi đến Bê-lem, các ông chỉ thấy một trẻ thơ mới sinh trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Sự nghèo khó bề ngoài không làm các ông nản lòng. Các ông vui mừng dâng lên Hài Nhi của lễ đặc trưng cho các dân tộc phương Đông, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Các của lễ này, theo cách cắt nghĩa của truyền thống, mang tính biểu tượng phong phú: vàng thường được dâng cho vua chúa; trầm hương được dâng kính các thần linh; và mộc dược thường dùng để tẩm liệm xác người đã chết và chữa lành những đau đớn. Như vậy, các lễ vật ba nhà đạo sĩ mang đến dâng Chúa mang ngôn ngữ biểu tượng đặc biệt.
Qua ba nhà đạo sĩ, muôn dân đã được thấy Ánh Sáng. Ơn Cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô không chỉ dành riêng cho dân tộc Do Thái mà cho tất cả những ai thành tâm thiện chí. Lời tuyên bố của Đức Chúa trong sách Ngôn sứ I-sai-a: “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49,6) đã được thực hiện nơi Đức Giê-su. Trong Tin Mừng thánh Gio-an, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Ki-tô hữu là người bước đi trong ánh sáng của Đức Ki-tô. Ki-tô hữu cũng được mời gọi cố gắng nỗ lực mỗi ngày để trở nên ánh sáng, nhờ tiếp nhận ánh sáng thánh thiện từ Đức Giê-su. “Chính anh em là áng sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được….Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,14-16).
Trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số người ngoại, tức không phải Do Thái lại được diễn tả với cái nhìn rất tích cực. Đó là người phụ nữ Phê-ni-xi đến xin Chúa chữa con mình khỏi quỷ ám (x. Mt 15,21-28; Mc 7,24-30). Đó là viên sĩ quan hoàng gia ở Ca-phác-na-um xin Chúa chữa bệnh cho con trai đau nặng sắp chết (x. Ga 4,46-54). Đó còn là viên bách quan đội trưởng, khi chứng kiến Chúa Giê-su tắt thở trên thập giá, đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Cũng có thể nhắc đến người Sa-ma-ri-a nhân hậu trong dụ ngôn Chúa nói trong Tin Mừng thánh Lu-ca (x.Lc 10,29-37); người cùi được chữa lành trở lại cám ơn Chúa (Lc 17,11-19)… Qua những nhân vật này, Chúa nói với chúng ta: người ngoại cũng có một trái tim, có lòng trắc ẩn và họ cũng cần được cứu rỗi, trong khi những ai cậy mình là dân được tuyển chọn phải cẩn thận xem lại mình.
Hành trình đức tin của Ki-tô hữu cũng là hành trình vươn mình về phía ánh sáng. Cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm; giữa cái thiện và cái ác luôn là cuộc chiến cam go và ác liệt. Trong hành trình tìm kiếm vị vua mới sinh, các nhà đạo sĩ đã có lúc không còn thấy ngôi sao chỉ đường nữa, nhưng các ông không nản. Các ông đã tìm đến Giê-ru-sa-lem, là nơi các ông có thể tìm thấy sự hướng dẫn và quả đúng như vậy. Cuộc tìm kiếm của các ông còn gặp nguy hiểm đến từ vua Hê-rô-đê, người lo sợ bị mất ngai vàng. Thiên Chúa luôn nâng đỡ những ai tìm kiếm Ngài. Giấc mơ và lời sứ thần mà các ông nghe thấy, chính là sự nâng đỡ và soi sáng của Thiên Chúa. Như các nhà đạo sĩ, chúng ta cần lắng nghe lời chỉ dẫn của Chúa, để biết đâu là con đường phải đi và đâu là những việc phải làm.
“Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi!”. Đó là lời hiệu triệu được gửi tới những ai tin vào Chúa. Hãy đứng thẳng, tức là hãy sống trung thực, xứng đáng là con của Chúa. Hãy đứng thẳng, đó cũng là trạng thái an bình thanh thản của một người luôn phó thác vào quyền năng và tình yêu thương của Đấng đã chết để cứu độ nhân loại.
Lễ Hiển Linh năm nay là ngày kết thúc Năm Thánh Hy Vọng cấp Giáo Hội hoàn vũ. Tại Rô-ma, Đức Thánh Cha sẽ dâng lễ bế mạc Năm Thánh. Năm Thánh khép lại, nhưng là khởi đầu của cuộc lên đường mới. Như các nhà đạo sĩ “đi lối khác mà về”, chúng ta hãy lên đường để loan báo Đức Ki-tô là Niềm Hy Vọng cho thế giới hôm nay. mục lục
+ ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên
I. Ba nhà chiêm tinh và mạc khải của Thiên Chúa
Đọc trình thuật Tin Mừng theo thánh Matthêu về cuộc hành trình của ba nhà chiêm tinh đến Bêlem (x. Mt 2,1–12), nhiều người thắc mắc: tại sao Chúa Giêsu không tỏ mình ra cho các tư tế, các nhà lãnh đạo Do Thái, hay cho các nhà chiêm tinh đang cư ngụ tại Giêrusalem, mà lại tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh từ phương Đông xa xôi?
Theo suy nghĩ của tôi, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh phương Đông bởi vì họ là những con người đơn sơ và hiền lành. Điều này có thể nhận ra rõ ràng khi đọc kỹ Tin Mừng theo thánh Matthêu.
1. Sự đơn sơ trong cách tìm kiếm
Trước hết, khi bị mất ánh sao dẫn đường, họ đã thẳng thắn đi vào hoàng cung và gặp vua Hêrôđê – vị vua đang tại vị – để hỏi:
“Đức vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2,2).
Câu hỏi ấy, xét theo lô-gích trần gian, chẳng khác nào nói với Hêrôđê: hài nhi kia mới là vua đích thực, còn ông chỉ là vua giả. Thế nhưng, họ vẫn hỏi với tất cả sự ngay thẳng và đơn sơ.
2. Sự hiền lành trong niềm tin
Thứ đến, khi vua Hêrôđê nói:
“Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi; khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2,8),
ba nhà chiêm tinh đã tin vào lời ấy cách hồn nhiên, không hề nghi ngờ mưu mô giả hình và thâm hiểm của Hêrôđê. Chỉ đến khi được Thiên Chúa báo mộng “đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa”, họ mới “đi lối khác mà về xứ mình” (x. Mt 2,12).
3. Sự khiêm hạ trong thờ lạy
Sau cùng, khi đến gặp Hài Nhi Giêsu tại Bêlem, họ đã:
“sấp mình bái lạy Người; rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).
Họ không thắc mắc, không nghi ngờ, cũng không đặt vấn đề: tại sao một vị vua lại sinh ra nơi hang đá nghèo hèn, không quân lính, không cung điện, chỉ có máng cỏ và vài con vật. Họ chỉ đơn sơ thờ lạy.
Nhờ sự đơn sơ và hiền lành ấy, ba nhà chiêm tinh đã được Thiên Chúa hướng dẫn, soi sáng, che chở khỏi âm mưu của Hêrôđê, và được gặp gỡ chính Hài Nhi Giêsu.
II. Lời mời gọi sống đơn sơ và hiền lành
Bạn và tôi có muốn được Chúa che chở, soi sáng, gìn giữ khỏi những cạm bẫy của Xa-tan và được gặp gỡ Ngài không? Nếu muốn, chúng ta hãy cố gắng sống đơn sơ và hiền lành như ba nhà chiêm tinh năm xưa.
1. Đơn sơ trong lời nói và cách sống
Sống đơn sơ là sống ngay thẳng: bụng nghĩ sao thì nói vậy; nói năng lịch sự, lễ phép, vui vẻ, hòa nhã; không “một lời mà hai ý”; không nịnh hót, không tâng bốc, không ẩn ý, không giả hình giả nghĩa; không “miệng nam mô mà lòng bồ dao găm”.
Chúa Giêsu dạy rõ ràng:
“Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Còn thêm thắt điều gì là do Ác Thần” (Mt 5,37).
Vì thế, đừng thêm bớt, đừng bịa đặt, đừng nói quanh co, cũng đừng mưu mô tính toán để hạ bệ, phỉ báng hay làm nhục người khác.
2. Đơn sơ gắn liền với khiêm tốn
Đơn sơ luôn đi đôi với khiêm tốn. Khi lầm lỗi, khiếm khuyết, hãy can đảm nhận lỗi và xin lỗi; đừng đổ tội cho người khác, cũng đừng tìm cách chối tội. Dám xin lỗi bề trên, bề dưới, con cháu hay những người thuộc quyền mình chính là dấu chỉ của một con người đơn sơ đích thực và đáng kính trọng.
III. Ba phúc lành của người đơn sơ và hiền lành
Khi sống đơn sơ và hiền lành, chúng ta sẽ nhận được nhiều phúc lành. Có thể tóm lại trong ba phúc lộc sau đây:
1. Bình an nội tâm
Người đơn sơ và hiền lành có sức mạnh nội tâm nhưng biết tự chủ; không lấy bạo lực đáp trả bạo lực; chọn yêu thương thay vì trả thù, nhường nhịn thay vì tranh chấp. Họ không nuôi hận thù, không phải hao tổn sức lực để chống trả hay hạ bệ người khác, nên được bình an trong tâm hồn.
Thánh Giacôbê khẳng định: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường” (Gc 4,6).
2. Trở nên giống Chúa Kitô
Người đơn sơ và hiền lành trở nên giống Chúa Giêsu, Đấng đã nói: “Hãy học cùng tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).
Khi nên giống Chúa, họ trở thành chứng tá sống động của Tin Mừng, mang lại sự chữa lành, cảm hóa, niềm vui và hy vọng cho những người chung quanh.
3. Phần thưởng Nước Trời
Chúa Giêsu đã khẳng định nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Matthêu: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,5).
Và: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3), tức là nếu không sống đơn sơ và hiền lành, chúng ta sẽ không đạt tới hạnh phúc Nước Trời.
IV. Lời nguyện kết
Bạn và tôi có muốn có bình an nội tâm, muốn nên giống Chúa, và muốn được Chúa ban thưởng hạnh phúc Nước Trời không? Nếu muốn, xin chúng ta cầu nguyện cho nhau.
Xin Chúa ban cho chúng ta ơn khôn ngoan và hiểu biết, để nhận ra và ghi nhớ những phúc lành do đời sống đơn sơ và hiền lành mang lại. Xin Ngài cũng ban ơn trợ giúp, để chúng ta có thể sống đơn sơ và hiền lành trong lời nói, tư tưởng, cử chỉ, hành động và trong mọi mối tương quan, ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.
Nguyện chúc bạn và gia đình, cùng tất cả những người thân yêu, một tuần lễ mới tràn đầy bình an, niềm vui, và tinh thần đơn sơ hiền hòa trong Chúa. mục lục
Lm. Đa Minh Phạm Tĩnh, SDD
Mầu nhiệm Hiển Linh: Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân
Hôm nay, chúng ta mừng Lễ Chúa Hiển Linh, lễ tưởng niệm và làm sống lại mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình ra cho muôn dân. Lễ này cũng thường được gọi là Lễ Ba Vua. Tuy nhiên, hầu hết các nhà chuyên môn về Thánh Kinh đều cho rằng không có vua chúa trần gian nào đến bái thờ Hài Nhi Giêsu trong hang đá Bêlem, ngoại trừ vua Hêrôđê, một bạo chúa đã tìm cách giết Người.
Vậy những ai là người đã từ phương Đông đến tôn thờ Hài Nhi?
Đó là các nhà chiêm tinh, những người chuyên nghiên cứu thiên văn và quan sát tinh tú để nhận định vận mệnh của một số nhân vật quan trọng. Dù hành trình tìm kiếm của họ đáng cho chúng ta khâm phục và noi gương, điều hệ trọng hơn cả vẫn là việc Thiên Chúa hiện diện trong thân phận con người cho muôn dân, chứ không chỉ riêng cho dân Do Thái.
Hiển Linh – chiều kích viên mãn của Giáng Sinh
Mầu nhiệm Hiển Linh giúp chúng ta nhận ra chiều kích trọn vẹn của biến cố Giáng Sinh. Giáng Sinh, tự bản chất, có thể được hiểu như cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Ítraen, dân riêng của Ngài. Nhưng với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm ấy đạt tới tính phổ quát: Thiên Chúa làm người và tỏ mình ra không chỉ cho dân Do Thái, mà cho muôn dân muôn nước, trong đó có cả chúng ta.
Việc tỏ mình là sáng kiến hoàn toàn của Thiên Chúa; không ai có thể đòi hỏi hay buộc Ngài phải thực hiện. Tuy nhiên, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau, thì đó quả là một thiếu sót nghiêm trọng. Vì thế, biến cố Hiển Linh giữ một vai trò thiết yếu trong hành trình đức tin và trong cách sống đạo của mỗi người Kitô hữu.
Hai thái độ đối nghịch trước sự hiện diện của Chúa
Ngày xưa, đã có rất nhiều người gặp gỡ Đức Giêsu: họ lớn lên với Người tại Nadarét; theo Người trên những nẻo đường rao giảng từ làng này sang làng khác; được Người nuôi ăn khi đói khát; được chứng kiến các phép lạ. Thế nhưng, kết cục ra sao? Dân Nadarét, dân Galilêa, hay dân Giêrusalem, rốt cuộc đều tìm cách loại bỏ Người.
Trái lại, các nhà chiêm tinh thì khác. Họ không nhận ra Thiên Chúa nhờ truyền thống tôn giáo, cũng không nhờ hệ thống giáo lý kinh điển do cha ông truyền lại. Thiên Chúa đã đến với họ ngay trong hoàn cảnh sống, trong khả năng chuyên môn và trong tầm nhận biết của họ.
Cuộc gặp gỡ ấy tương tự như các cuộc kêu gọi khác trong Tin Mừng: Chúa Giêsu đến với Phêrô và các bạn khi họ đang chài lưới; đến với Phaolô khi ông đang thi hành sứ mạng chống lại Người; gọi Mátthêu khi ông đang ngồi ở bàn thu thuế. Không ai có đặc quyền hay đặc lợi. Sáng kiến luôn là của Thiên Chúa, Đấng đến với mỗi người ngay trong hoàn cảnh cụ thể của họ.
Hành trình tìm kiếm: lên đường trong đức tin
Như các nhà chiêm tinh, chúng ta cũng được mời gọi lên đường.
Hành trình của họ không hề dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đường, nhưng ngôi sao ấy có lúc ẩn lúc hiện. Có khi họ mất dấu, không phải vì lạc đường, mà vì ánh sao không còn xuất hiện. Trong hoàn cảnh đó, họ không nản chí, nhưng tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những người đã được tiên báo về sự xuất hiện của Hài Nhi Giêsu: đó là các thượng tế và kinh sư, những người nắm giữ Lời các ngôn sứ về nơi chốn vị lãnh tụ, Đấng chăn dắt dân Thiên Chúa, sẽ ra đời (x. Mt 2,4–6).
Thế nhưng, các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy chỉ biết theo kinh điển mà không lên đường, nên cái biết của họ không đem họ đến với Chúa. Vua Hêrôđê cũng biết, nhưng tri thức ấy không giúp ông đến gần Thiên Chúa; trái lại, nó khơi dậy nơi ông nỗi sợ hãi mất quyền lực, dẫn đến những hành vi tàn bạo, “giết lầm hơn bỏ sót”.
Ai tìm ai? Thiên Chúa đi bước trước
Thánh sử không đặt trọng tâm nơi hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh. Bởi nếu chỉ có con người đi tìm Thiên Chúa, thì mầu nhiệm Hiển Linh vẫn chưa trọn vẹn. Điều làm nên chiều sâu của ngày lễ hôm nay chính là Thiên Chúa đã đi bước trước.
Ngài không đợi con người vươn lên tới trời để gặp Ngài, nhưng từ trời xuống thế làm người; không trong vinh quang trần thế, mà trong thân phận nghèo hèn; không nơi cung điện lộng lẫy, mà trong sự âm thầm của máng cỏ.
Vì thế, Lễ Hiển Linh trước hết không phải là ngày con người tìm thấy Thiên Chúa, mà là ngày Thiên Chúa tỏ mình và đi tìm con người. Ngài luôn làm chủ lịch sử cứu độ và soi sáng những ai chân thành tìm kiếm ơn cứu độ, ngay cả khi con đường phía trước mờ mịt và tương lai tưởng chừng vô định.
Hiển Linh trọn vẹn nơi Thập Giá và Phục Sinh
Mầu nhiệm Hiển Linh đạt tới đỉnh cao khi Đức Giêsu hiến trao trọn vẹn cuộc sống của Người. Chính sự tự hiến ấy đã trở thành cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về căn tính đích thực của Người qua biến cố Phục Sinh. Các môn đệ là những chứng nhân của cuộc Hiển Linh Phục Sinh này.
Đức tin của chúng ta hôm nay cũng được xây dựng trên lời chứng của Hội Thánh sơ khai:
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14).
Không ai là người ngoài cuộc trong chương trình cứu độ
Qua biến cố Hiển Linh, Thiên Chúa cho thấy rằng: không ai là người ngoài cuộc. Tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ; mọi người đều được diễm phúc làm con cái Ngài; và mọi người đều được kêu gọi sống để làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa được tỏ bày.
Lời mời gọi làm chứng trong đời sống hằng ngày
Anh chị em thân mến,
Thiên Chúa đã làm người và đã tỏ mình cho chúng ta nhận biết. Vậy chúng ta đã làm gì để việc Hiển Linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc đời mình?
Có những lúc chúng ta cảm thấy Chúa rất gần gũi, thúc đẩy chúng ta ra đi làm những việc lớn lao. Với ý ngay lành, ta tưởng như Thiên Chúa rất cần ta. Nhưng rồi, trước những khó khăn, chống đối và nghịch cảnh, chúng ta dễ nản lòng, chán nản và muốn bỏ cuộc.
Điều đáng ngạc nhiên là Thiên Chúa không bao giờ chán nản về chúng ta. Ngài dùng mọi cách để hướng dẫn: từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến những con người không tin như Hêrôđê, hay những người am tường đạo Chúa. Ngài vẫn sử dụng họ như những khí cụ để nhắn nhủ rằng: chúng ta vẫn đáng tin; hãy tiếp tục lên đường; hãy mạnh dạn ra khơi.
Hiển Linh trong những việc nhỏ bé thường ngày
Việc làm chứng cho mầu nhiệm Hiển Linh không ở đâu xa, nhưng nằm ngay trong bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa người tin và người không tin, nơi những ai dám để chất người lớn lên và chế ngự những bản năng thấp hèn.
Cụ thể là:
-
Những nụ cười và lời cảm thông thay cho trách móc, ghen tỵ và oán giận.
-
Những con tim rộng mở để đón nhận, khoan dung và tha thứ cho nhau.
-
Những bàn tay nhân ái để chào đón và nâng đỡ, thay vì loại trừ và xua đuổi.
-
Những việc cụ thể để tìm kiếm và thực thi Lời Chúa: yêu thương, nâng đỡ, khích lệ nhau, chứ không chỉ dừng lại ở lời cầu xin suông.
Đó là những việc làm rất bình thường, nhưng ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện.
Sau cùng, chúng ta ý thức rằng: mọi hoàn cảnh đều là cơ hội để vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện, qua một đời sống chứng tá tuy âm thầm nhưng lại chất chứa quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi chúng ta.
Cầu xin được như thế. Amen. mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
CHÚA HIỂN LINH – SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI TÍN HỮU
Hôm nay, Hội Thánh long trọng cử hành Lễ Chúa Hiển Linh, hay còn gọi là Lễ Chúa Tỏ Mình, một trong những lễ cổ kính và giàu chiều sâu đức tin nhất của Ki-tô giáo. Ngay từ những thế kỷ đầu, đặc biệt nơi các Giáo Hội Đông phương, lễ này đã được cử hành để tuyên xưng rằng: Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho nhân loại nơi Đức Giê-su Ki-tô, và ơn cứu độ của Người không dành riêng cho một dân tộc, nhưng cho toàn thể muôn dân.
Từ “Hiển Linh” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Epiphaneia, hay Epiphaino, có nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Đức Ki-tô, khiến người khác có thể trông thấy mình được được. Nếu lễ Giáng Sinh nhấn mạnh sự ẩn mình của Thiên Chúa trong thân phận nghèo hèn của Trẻ Thơ Bê-lem, thì lễ Hiển Linh lại làm nổi bật việc Thiên Chúa chủ động tỏ mình, xuất hiện qua chính nhân tính ấy, để con người nhận ra và thờ lạy.
Dấu chỉ đặc biệt của sự tỏ mình này chính là ánh sao lạ. Thiên Chúa dùng ánh sao để dẫn đường cho Ba Nhà Đạo Sĩ từ phương Đông, những người không thuộc dân Do Thái, nhưng lại có tấm lòng khao khát chân lý. Nhờ ánh sao, họ lên đường tìm kiếm và cuối cùng gặp và tin nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế.
Ánh sáng bừng lên giữa bóng tối
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ I-sai-a, vang lên như một lời công bố hùng hồn và đầy hy vọng: “Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giê-ru-sa-lem! Vì sự sáng của ngươi đã tới” (Is 60,1).
Trong bối cảnh dân Chúa đang sống giữa cảnh lưu đày, u tối và tuyệt vọng, I-sai-a loan báo rằng vinh quang của Thiên Chúa sẽ bừng lên, và các dân tộc sẽ tìm đến ánh sáng ấy. Lời tiên tri này được ứng nghiệm trọn vẹn nơi Đức Giê-su Ki-tô. Người chính là Ánh Sáng thật, không chỉ chiếu soi Ít-ra-en, mà còn chiếu soi muôn dân.
Ánh sáng của Chúa không xua tan bóng tối bằng bạo lực, nhưng bằng tình yêu, sự thật và lòng xót thương. Giữa một thế giới hôm nay còn đầy chiến tranh, hận thù, gian dối và chia rẽ, lễ Hiển Linh nhắc chúng ta rằng: “Ánh sáng đã đến trong thế gian”, và ánh sáng ấy vẫn đang mời gọi con người bước ra khỏi bóng tối của ích kỷ, sợ hãi và tội lỗi.
Đức Ki-tô là Ơn cứu độ cho toàn thế giới
Bài đọc II, trích thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-xô, làm sáng tỏ chiều kích phổ quát của mầu nhiệm này: “Các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể, và đồng thông phần với lời hứa của Người” (Êp 3,6).
Đây là một mặc khải lớn lao: ơn cứu độ không còn bị giới hạn bởi huyết thống, luật lệ hay truyền thống, nhưng được ban cho tất cả những ai tin. Qua Đức Giê-su, Thiên Chúa phá đổ mọi bức tường ngăn cách để quy tụ nhân loại thành một gia đình duy nhất.
Lời này mời gọi mỗi Ki-tô hữu chúng ta hôm nay mở rộng con tim, biết tôn trọng, đối thoại và cộng tác với những người khác chúng ta về niềm tin, văn hóa và quan điểm. Chúng ta không được khép kín hay loại trừ, nhưng phải trở nên ánh sao sáng hay dấu chỉ sống động của sự hiệp nhất và tình huynh đệ phổ quát.
Hành trình của ánh sáng và đức tin
Ba Nhà Đạo Sĩ là hình ảnh tiêu biểu của những con người biết tìm kiếm Thiên Chúa. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại rằng: “Họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11). Họ đọc ra dấu chỉ của Người nơi ngôi sao, dám lên đường, vượt đèo trèo sông, bất chấp nghịch cảnh và cả âm mưu của vua Hê-rô-đê. Họ không dừng lại ở kiến thức, nhưng để cho ánh sáng dẫn họ đến cuộc gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa làm người.
Họ dâng lên Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược: vàng để tuyên xưng Người là Vua, nhũ hương để thờ lạy Người là Thiên Chúa, và mộc dược báo trước cuộc khổ nạn cứu độ. Trước một Hài Nhi nghèo hèn, họ đã nhận ra vinh quang đích thực.
Trái lại, vua Hê-rô-đê và các kinh sư, dù biết Kinh Thánh, lại không lên đường. Kiến thức không đi kèm lòng khiêm tốn và khao khát chân lý có thể dẫn con người đến sự mù lòa thiêng liêng.
Sứ mạng người Ki-tô hữu, phản chiếu Ánh Sáng
Lễ Hiển Linh không chỉ nói về một biến cố trong quá khứ, mà còn nói về sứ mạng của Giáo Hội và của người Ki-tô hữu chúng ta là phản chiếu Ánh Sáng hôm nay. Như Hiến chế Lumen Gentium khẳng định: “Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Ki-tô”; Giáo Hội không phải là ánh sáng tự mình, nhưng có sứ mạng phản chiếu ánh sáng của Đức Ki-tô cho thế giới.
Mỗi Ki-tô hữu cũng vậy. Sau khi đã được ánh sáng Chúa chiếu soi, chúng ta được mời gọi thi hành sứ mạng của mình là trở thành những “ngôi sao nhỏ”, dẫn người khác đến với Chúa bằng đời sống yêu thương, trung thực, tha thứ và phục vụ. Chúng ta không cần làm những việc lớn lao, nhưng cần sống Tin Mừng cách nhất quán mỗi ngày.
Lễ Chúa Hiển Linh khẳng định rằng Thiên Chúa không ẩn mình, nhưng luôn tỏ lộ cho những ai thành tâm tìm kiếm. Ngài mời gọi chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn, theo ánh sáng đức tin, để gặp được Đức Ki-tô là Ánh Sáng thật chiếu soi trần gian.
Ước gì, sau khi đã quỳ gối thờ lạy Chúa như Ba Nhà Đạo Sĩ năm xưa, chúng ta cũng trở về bằng con đường khác: con đường của một đời sống được biến đổi, để chính chúng ta trở nên ánh sáng của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Amen. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ CHIẾU SOI MUÔN DÂN
Lễ Hiển Linh là ngày Giáo Hội mừng Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho muôn dân, được đại diện bởi các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mặc khải mầu nhiệm cứu độ phổ quát: Chúa Kitô là Ánh Sáng không chỉ dành riêng cho Israel, nhưng cho mọi dân tộc. Hành trình của các nhà chiêm tinh là cuộc kiếm tìm ánh sáng chiếu soi muôn dân, vì kể cả dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp cùng với Israel trong Chúa Kitô.
1. Các nhà chiêm tinh tìm kiếm và thờ lạy Chúa
Tin Mừng Mátthêu kể: “Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:12).
Các nhà chiêm tinh đại diện cho muôn dân ngoại giáo tìm kiếm Thiên Chúa. Họ theo ngôi sao, biểu tượng ánh sáng Thiên Chúa, dẫn dắt những tâm hồn thành tâm thiện chí. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI dạy rằng: “Khi xét đến thực tế rằng ngay từ thuở ban đầu, nam nữ ở mọi nơi, mọi châu lục, với mọi nền văn hóa, tư tưởng và lối sống khác nhau, đều đang trên đường đến với Chúa Kitô, thì ta có thể thực sự nói rằng cuộc hành hương này và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dưới hình hài một Hài nhi là một sự mặc khải về sự tốt lành và tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại” (Bài giảng lễ Chúa Hiển linh, 6 tháng Giêng, năm 2013).
Các nhà chiêm tinh dâng vàng, tượng trưng cho vương quyền của Ấu vương Giêsu; nhũ hương, tượng trưng cho thiên tính của Hài Nhi Giêsu; và một dược tượng trưng cho cho nhân tính của Chúa Hài Đồng, cũng mang trong mình bản tính của loài người, cũng biết đói, biết đau, biết buồn, biết khóc, và trở nên mọi sự như chúng ta, kể cả cái chết, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15). Thánh Lêô Cả dạy: “Như tiên tri Isaia đã nói: dân ngoại, những người ngồi trong bóng tối, đã thấy một ánh sáng lớn, và đối với những người ở trong vùng bóng tối của sự chết, một ánh sáng đã ló rạng. Dân ngoại, là những người không biết Chúa, sẽ cầu khẩn Chúa, và các dân tộc, là những người không biết Chúa, sẽ nương náu nơi Chúa. Tất cả các dân tộc mà Chúa đã tạo dựng nên sẽ đến và quỳ xuống thờ phượng trước mặt Chúa, và tôn vinh danh Chúa. Một lần nữa, Chúa đã bày tỏ ơn cứu rỗi của Ngài; trước mắt các dân tộc, Ngài đã tỏ ra sự công chính của Ngài. Điều này đã được ứng nghiệm, như chúng ta biết, từ khi ngôi sao gọi ba nhà thông thái ra khỏi xứ sở xa xôi của họ và dẫn họ đến nhận biết và thờ phượng Vua trời đất.” [1] Hành trình của ba nhà chiêm tinh nhắc nhở chúng ta rằng hành trình tìm kiếm Thiên Chúa cần phải nỗ lực, vượt qua mưu chước đen tối của quyền lực thế gian mà Hêrôđê là tượng trưng, và khi gặp Ngài, phải thờ lạy và thay đổi lối sống: “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2:12).
Thánh Augustinô khẳng định: “Thưa anh em, ngày lễ chúng ta cử hành không phải là một sự kiện bình thường. Đây là ngày mà Đấng Cứu Độ trần gian được tỏ ra cho muôn dân” (Bài giảng 202,1). Trong bài giảng này, ngài cũng nhấn mạnh rằng các mục đồng và các nhà thông thái, đến từ những hoàn cảnh khác nhau, đều hội tụ trong Chúa Kitô như là hòn đá góc tường: “Các mục đồng là người Israel; các nhà thông thái là dân ngoại; Các mục đồng từ những nơi gần mà đến; các nhà thông thái từ những nơi xa mà đến; nhưng cả hai đều gặp nhau nơi hòn đá góc tường” (đã dẫn trên). Thánh Augustinô cũng coi các nhà thông thái là hình mẫu của cuộc tìm kiếm tâm linh. Ngài viết: “Họ từ phương xa đến để thờ lạy Đấng mà họ đã biết bằng đức tin trước khi nhìn thấy Ngài bằng mắt thường” (Chú giải Thánh vịnh 72, Enarrationes in Psalmos 72:10). Thánh nhân diễn tả các nhà thông thái đi theo sự dẫn lối của một ngôi sao, một “ngôn ngữ từ trời” nói với họ về Chúa Kitô: “Chưa thể nói bằng ngôn ngữ trần gian, Ngài đã nói với họ từ trời qua ngôi sao” (Bài giảng 202:2). Thánh nhân tuyên bố: “Chúa Kitô đã tỏ mình ra cho các mục tử của Israel và các nhà thông thái của các dân tộc, cho thấy rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người” (De civitate Dei, XVII,5).
Đối với Thánh Augustinô, lễ Hiển Linh cũng là dịp để suy ngẫm về phản ứng của chúng ta trước sự hiện diện của Chúa Kitô. Ngài cảnh báo: “Chỉ nhìn thấy ngôi sao thôi chưa đủ, cần phải theo đuổi nó. Chỉ biết Chúa Kitô thôi chưa đủ, cần phải tôn thờ Ngài” (Bài giảng 203, 3). Hơn nữa, ngài còn nhấn mạnh rằng sự thay đổi đường lối của các nhà thông thái tượng trưng cho sự hoán cải: “Thay đổi đường lối là thay đổi cuộc sống” (Bài giảng 202,4). [2]
2. Ánh sáng Chúa chiếu soi muôn dân
Ngôn sứ Isaia từng tiên báo: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước…Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa” (Is 60: 1-6). Lời tiên tri này, viết trong thời lưu đày Babylon, loan báo Giêrusalem trở thành trung tâm ánh sáng thu hút muôn dân. Lời ấy hôm nay ứng nghiệm qua Chúa Kitô chính là ánh sáng ấy.
Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Messia của Israel, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể” (GLHTCG, số 528).
Việc Chúa Giêsu, vị Vua Hài nhi, tỏ mình ra cho các nhà thông thái dân ngoại là một mầu nhiệm trong kế hoạch cứu độ Của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Chúa Kitô…Mầu nhiệm đó là: trong Chúa Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:2-3,6). Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Tôi đã trở nên người phục vụ Tin Mừng đó, nhờ ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban cho tôi” (Ep 3: 7) và tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh, thế mà Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại” (Ep 3: 8).
Giáo Lý Hội Thánh nhấn mạnh: “Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái có nghĩa là các dân ngoại có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Mêsia như đã được ghi chép trong Cựu Ước. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ, và được hưởng “phẩm giá của Israel” (GLHTCG, số 528).
3. Trở nên ánh sáng cho muôn dân
Lễ Hiển Linh không chỉ là kỷ niệm lịch sử, mà là lời mời gọi chúng ta trở thành ngôi sao dẫn muôn dân đến với Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi: “Chúng ta hãy cầu xin lòng can đảm để tiếp tục cuộc hành trình của mình, và hãy kết thúc trong sự thờ phượng! Chúng ta đừng sợ hãi, vì đây là con đường của các nhà thông thái, con đường của tất cả các thánh nhân trong suốt lịch sử: đón nhận sự bồn chồn của mình, lên đường và thờ phượng. Nguyện xin chúng ta đừng bao giờ gián đoạn cuộc hành trình của mình, bị sự thờ ơ hay tiện nghi khuất phục; và trong cuộc gặp gỡ với Chúa, nguyện xin chúng ta hãy phó thác mình cho sự kỳ diệu của sự thờ phượng. Khi đó, chúng ta sẽ khám phá ra rằng một ánh sáng vẫn chiếu rọi ngay cả trong những đêm tối tăm nhất: ánh sáng của Chúa Giêsu, ngôi sao mai rạng rỡ, mặt trời công lý, vinh quang đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi người nam nữ và tất cả các dân tộc trên trái đất” (Bài giảng Lễ Hiển Linh, ngày 6 tháng 1 năm 2023).
Trong thế giới hôm nay đầy bóng tối chiến tranh, chia rẽ, chúng ta được mời gọi “Đứng lên, bừng sáng lên!” (Is 60: 1), mang ánh sáng Chúa Kitô đến mọi dân tộc. Theo bước các nhà chiêm tinh, chúng ta tìm kiếm Chúa trong cầu nguyện, dâng tiến Ngài những gì quý giá nhất, thời gian, tài năng, cuộc đời, hoán cải “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12) và sống đời chứng tá. Xin Chúa Hiển Linh ban ơn để chúng ta trở nên ánh sáng cho thế giới, dẫn muôn dân đến thờ lạy Ngài. mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] http://www.solonstmary.org
[2] https://agustinosrecoletos.com
THIÊN CHÚA TỎ MÌNH VÀ CON NGƯỜI TỰ CHE MẮT
Thiên Chúa không bao giờ ngừng tỏ mình. Vấn đề không nằm ở chỗ Ngài có nói hay không, mà ở chỗ con người có còn đủ tĩnh để nghe, đủ nghèo để thấy, và đủ khiêm hạ để đón nhận hay không.
Trong mầu nhiệm Hiển Linh, điều gây ngạc nhiên không phải là việc Thiên Chúa xuất hiện, nhưng là phản ứng rất khác nhau của con người trước cùng một mạc khải.
Có người chỉ thấy một ánh sao nhỏ bé giữa bầu trời mênh mông, nhưng lại nhận ra Chân Lý và sẵn sàng lên đường.
Có người nắm trong tay cả Kinh Thánh, cả lịch sử cứu độ, cả quyền bính tôn giáo, nhưng vẫn đứng yên, thậm chí khép chặt đôi mắt, khép chặt lòng mình trước chính Thiên Chúa đang ở rất gần.
Hiển Linh vì thế không chỉ là lễ Thiên Chúa tỏ mình, mà còn là lễ vạch trần lòng người.
Nơi đó, ánh sáng không chỉ chiếu rọi Hài Nhi Bêlem, mà còn soi rõ một sự thật âm thầm nhưng cay đắng: Có những con người che mắt mình ngay giữa lúc Thiên Chúa đang tỏ mình rõ nhất.
1. MỘT ÁNH SAO VÀ MỘT TÂM HỒN ĐÃ SẴN SÀNG.
Trong đêm tối của lịch sử, Thiên Chúa không chọn những tiếng sấm, cũng không giương cao những dấu lạ làm chao đảo trời đất. Thiên Chúa chỉ đặt một ánh sao nhỏ bé trên bầu trời. Chỉ thế thôi.
Nhưng chính ánh sao ấy đã đủ để làm cho những con người ở rất xa, rất xa - những nhà đạo sĩ phương Đông - lên đường, băng qua sa mạc, vượt qua hiểm nguy, bỏ lại sau lưng sự an toàn của mình, để đi tìm một điều họ chưa hề thấy bằng mắt, chưa hề nắm chắc trong tay.
Ánh sao, mạc khải tự nhiên, không đến từ sách vở, không từ đền thờ, không từ chức danh hay quyền bính tôn giáo. Chỉ là dấu chỉ rất nhỏ, cộng với một tâm hồn đủ nghèo để không khinh thường điều bé nhỏ.
Các đạo sĩ bắt gặp Chân Lý không phải vì họ thông thái hơn người, mà vì họ đã có "tâm hồn" trước khi có dấu chỉ.
Họ nghèo, không phải nghèo tiền bạc, nhưng nghèo vì: Không tự mãn với những gì mình biết, không khép kín trong hệ thống mình đang có, và đủ khiêm tốn để tin rằng: Có một Ánh Sáng vượt quá mình.
Chính tinh thần nghèo khó ấy đã làm cho ánh sao, vốn ai cũng có thể thấy, trở thành lời gọi riêng đối với họ.
2. KINH THÁNH TRONG TAY NHƯNG THIÊN CHÚA KHÔNG Ở TRONG LÒNG.
Trái ngược hẳn là khung cảnh tại Giêrusalem. Ở đó không thiếu gì cả. Ở đó có Đền Thờ nguy nga, có Kinh Thánh, có hàng tư tế, kinh sư, có truyền thống, luật lệ, học vấn và quyền lực tôn giáo.
Khi các đạo sĩ hỏi: "Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu?”, người ta trả lời rất chính xác: Bêlem.
Đó là mạc khải siêu nhiên, mạc khải ở bậc cao, mạc khải qua Lời Chúa, qua lịch sử cứu độ, qua Kinh Thánh được đọc, được học, được giảng dạy.
Nhưng điều bi thảm là: Họ biết mà không đi; Họ nói mà không tìm; Họ dạy người khác về Chúa, nhưng không để cho mình được Chúa dẫn đi.
Hêrôđê và những người "có đạo" ấy: thờ Chúa mà không có Chúa, đọc Kinh Thánh mà không yêu Đấng ban Kinh Thánh, phụng sự tôn giáo nhưng thực ra phụng sự chính mình.
Mạc khải siêu nhiên, thay vì dẫn họ đến quỳ gối, lại trở thành công cụ để bảo vệ quyền lực, và sau cùng, mở đường cho sự tàn bạo.
3. KHI MẠC KHẢI KHÔNG CÒN CỨU ĐỘ, MÀ TRỞ THÀNH ÁN PHẠT.
Hiển Linh cho thấy một nghịch lý rất đau: Không phải ai có mạc khải cũng gặp được Thiên Chúa. Có những người: càng biết nhiều về Chúa, càng xa Chúa; càng nắm luật chặt chẽ, càng thiếu lòng thương xót; càng đứng ở trung tâm tôn giáo, càng sợ mất ngai vàng của cái tôi.
Lòng kiêu ngạo, sự không trung tín, và lối sống không tình yêu đã làm cho mạc khải, vốn để cứu độ, trở thành "con dao hai lưỡi", khiến con người thủ đoạn hơn, nham hiểm hơn, và sẵn sàng giết chết sự sống vô tội để giữ lấy quyền lợi của mình.
Hêrôđê không đi Bêlem. Khoảng cách từ Giêrusalem đến Bêlem chỉ vài cây số, nhưng đó là khoảng cách không thể vượt qua đối với một trái tim không còn nghèo trước mặt Thiên Chúa.
4. HAI CON ĐƯỜNG - HAI SỐ PHẬN.
Hiển Linh đặt trước mắt chúng ta hai con đường đối lập:
- Một bên là con đường xa xôi, đầy gian khổ, không chắc chắn, nhưng có ánh sao và có tấm lòng chân thành. Một bên là khoảng cách rất ngắn, đầy đủ phương tiện, dư thừa tri thức, nhưng trái tim đã khép kín.
- Một bên là: những người đi tìm, những người dám ra khỏi mình, những người quỳ xuống trước Hài Nhi nghèo hèn. Một bên là: những kẻ đứng yên, những kẻ tính toán, những kẻ không quỳ gối trước Thiên Chúa, nhưng bắt Thiên Chúa phải phục vụ mình.
Hiển Linh không lên án người không biết, nhưng vạch trần sự nguy hiểm của kẻ tưởng mình đã biết tất cả.
5. BÀI HỌC THẲNG THẮN CHO NGƯỜI TÍN HỮU HÔM NAY.
Lễ Hiển Linh buộc chúng ta phải tự hỏi, rất thẳng và rất hiện sinh:
- Tôi có Chúa, hay chỉ có đạo?
- Tôi nghèo trước mặt Chúa, hay giàu có trong cái tôi của mình: giàu hiểu biết, giàu chức vị, giàu tiếng nói, giàu ảnh hưởng?
- Tôi đi tìm Chúa, hay chỉ dùng Chúa để củng cố chỗ đứng của mình?
- Tôi đọc Kinh Thánh để hoán cải, hay để chứng minh mình đúng?
Tâm hồn có Chúa là tâm hồn dám quỳ, dám để mình được dẫn đi, dám để ánh sao nhỏ bé của Chúa làm xáo trộn những tính toán an toàn của mình.
Tâm hồn không có Chúa là tâm hồn: đứng rất gần mạc khải, nhưng rất xa tình yêu; nói nhiều về Chúa, nhưng sợ mất chính mình.
6. ÁNH SAO HÔM NAY VẪN CÒN ĐÓ.
Thiên Chúa vẫn đang hiển linh hôm nay: Trong những con người bé nhỏ, trong những hoàn cảnh âm thầm, trong những tiếng gọi không ồn ào.
Nhưng chỉ những ai nghèo đủ, chân thành đủ, và can đảm đủ để lên đường, mới có thể nhận ra ánh sao ấy.
Xin cho chúng ta đừng trở thành những người biết rất rõ Chúa sinh ở đâu, nhưng cả đời không bao giờ chịu bước tới đó. mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.