SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY_A

14-03-2026 436 lượt xem

Lời Chúa: 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a;  Ep 5,8-14;  Ga 9,1-41

Mục Lục

ĐỪNG LÀ "NGƯỜI SÁNG MẮT" ĐUI MÙ – + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

CÁI NHÌN CỦA THIÊN CHÚA – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MỪNG VUI LÊN TRONG ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC KITÔ – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ÁNH SÁNG CỦA CHÚA KITÔ SOI CHIẾU CUỘC ĐỜI CHÚNG TA – Phêrô Phạm Văn Trung

CÓ MẮT MÀ KHÔNG THẤY – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ÁNH SÁNG NIỀM TIN – Bông hồng nhỏ

AI SÁNG, AI MÙ! – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

ÁNH SÁNG NHÌN THẤU TRÁI TIM – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐỪNG LÀ "NGƯỜI SÁNG MẮT" ĐUI MÙ

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

CÁI NHÌN CỦA THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhìn khác với con người

Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người và muôn loài muôn vật. Ngài ở trên chúng ta. Cái nhìn của Ngài không giống như cái nhìn của chúng ta. Chúng ta thường quan sát bề ngoài, nhưng Thiên Chúa là Đấng thấu hiểu lòng dạ con người.

Mùa Chay mời gọi chúng ta thanh tẩy cách quan sát, loại bỏ tính nhỏ nhen ích kỷ, mở rộng tầm mắt quan sát mọi biến cố, mọi con người với cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, và cũng là Đấng luôn nhìn chúng ta với ánh mắt yêu thương.

2. Bài học từ ngôn sứ Sa-mu-en và vua Đa-vít

Tại nhà của ông Giê-sê, là cha của Đa-vít, ban đầu ông Sa-mu-en quan sát, nhận định theo cái nhìn chủ quan của mình. Ông thấy những người con lực lưỡng và hùng mạnh và nghĩ đó là người sẽ được Chúa chọn làm lãnh đạo Ít-ra-en.

Thiên Chúa đã nói với ông: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”

Cuối cùng, Đa-vít là một chàng trai còn mải chơi với đàn chiên và cung nỏ, hầu như bị quên lãng bởi mọi người trong gia đình, lại được chọn làm vị vua tương lai của Ít-ra-en.

3. Cần có cái nhìn sáng suốt để chiêm ngắm Thiên Chúa

Chúng ta cần có cái nhìn sáng suốt để chiêm ngắm Thiên Chúa. Tin là nhận biết quyền năng cao cả và tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa, mặc dù mắt thường không thấy.

Do ảnh hưởng bởi lối sống phàm tục, đôi khi người ta cố ý hay vô tình tạo dựng một hình ảnh méo mó và biến dạng về Thiên Chúa. Trong một xã hội tham nhũng và hối lộ, người ta nghĩ thế giới thần linh cũng thích nhận hối lộ theo kiểu “tốt lễ dễ kêu”.

Mỗi khi mùa xuân về, nhiều người đi lễ đền này phủ kia, với những mâm lễ cầu kỳ đắt tiền, và nghĩ rằng các vị thần linh sẽ hài lòng và phù trợ cho họ trong công việc làm ăn. Không mấy khi những người này để ý đến việc làm của mình là gian trá hay lương thiện. Họ cũng chẳng để ý đến tư cách và đời sống cá nhân của mình như thế nào, đồng thời coi việc lễ lạt là điều kiện đủ để có một cuộc sống may mắn, phát tài.

4. Đức Giê-su đến để điều chỉnh cái nhìn của con người

Đức Giê-su đến trần gian để điều chỉnh quan niệm của con người về Thiên Chúa. Người phê phán nặng lời những luật sĩ và biệt phái. Họ vừa sống giả hình, vừa mị dân vì thói tham lam.

Phép lạ chữa người mù bẩm sinh nhắc chúng ta nhìn lại quan niệm sáng – mù. Nội dung Phúc âm xây dựng các nhân vật một cách tài tình: anh mù từ bẩm sinh được chữa lành, tuy thân phận hèn kém, lại lý luận khôn ngoan, khiến những người luật sĩ phải cụt hứng.

Anh đã lập luận: “Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo thánh ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy.”

Trước đối đáp khôn ngoan này, những người biệt phái đuối lý và dùng quyền lực lấn át bằng “lý sự cùn”: “Mày sinh ra trong tội mà lại dạy chúng ta ư?”

5. Sự đảo ngược: ai sáng, ai mù?

Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, có một sự đảo ngược về quan niệm: người mù chỉ tăm tối về con mắt thể lý, nhưng con mắt tâm hồn thì lại sáng suốt; trong khi những người biệt phái tự hào về tri thức, thì tâm hồn họ lại tăm tối, do ghen ghét và hận thù.

Người mù đã nhìn thấy, không chỉ những vật xung quanh, mà còn thấy cả quyền năng của Thiên Chúa nữa.

Khi dùng những biện pháp đe dọa anh mù cũng như cha mẹ anh, những người biệt phái cố tình ép người mù phải nói theo định hướng của họ, để bản thân anh và những người xung quanh không tin rằng Chúa Giê-su có khả năng chữa lành.

Trong cuộc sống của chúng ta, có những khi, việc chứng minh về một sự thật hiển nhiên đã xảy ra cho bản thân mình lại là một điều không dễ, do những áp lực xung quanh.

6. Chúa Nhật Laetare: Chúa Nhật của niềm vui

Chúa Nhật thứ bốn Mùa Chay cũng được gọi là Chúa Nhật của niềm vui. Đây giống như một chặng nghỉ dưỡng sức để chuẩn bị bước vào những ngày cao điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, tức là Tam Nhật Vượt Qua và lễ Phục Sinh.

Chúng ta vui vì được Chúa mạc khải để nhìn thấy quyền năng của Ngài. Vui vì được làm con Chúa và được sống trong lòng Giáo Hội, với những anh chị em có cùng một đức tin và một lý tưởng trọn lành.

Những khổ chế hãm mình, cùng với thiện chí sám hối của Mùa Chay, nhằm đem lại cho chúng ta niềm vui của ân sủng và của tình người, niềm vui với Chúa và với anh chị em.

7. “Rửa mắt” để nhận ra những điều kỳ diệu

Chúng ta cần tập cho mình thói quen tạ ơn Chúa vì những điều nhỏ bé mà Chúa thực hiện xung quanh ta mỗi ngày.

Nếu mỗi buổi sáng chúng ta được thức dậy, mỗi ngày chúng ta có lương thực để ăn, chúng ta được đến trường hay công sở… là nhờ Thiên Chúa, và chúng ta cần tạ ơn Ngài về những điều đó.

Đức Giê-su đang sai chúng ta đi “rửa mắt” để nhận ra những điều kỳ diệu xung quanh mình.

8. Sống như con cái ánh sáng

Niềm vui của Ki-tô hữu chỉ trọn vẹn khi chúng ta thực sự rũ bỏ bóng tối. Ki-tô hữu là con cái của sự sáng. Chúng ta đang nỗ lực để vươn tới ánh sáng ngàn đời là Thiên Chúa.

Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Ê-phê-xô (Bài đọc II): “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.”

Qua những lời này, chúng ta hiểu điều mà thánh Phao-lô muốn diễn tả qua khái niệm “ánh sáng”: đó là lương thiện, công chính, hài hòa, khoan dung và bác ái.

Xin Chúa Giê-su mở mắt chúng ta, để chúng ta có cái nhìn của Thiên Chúa, đối với anh chị em và tất cả những gì đang xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.

9. Lời tuyên xưng và thờ lạy

Trình thuật Tin Mừng kết thúc ở cử chỉ thờ lạy, kèm theo lời tuyên xưng đức tin của người mù được chữa lành. Đó cũng là tâm tình của mỗi chúng ta, khi cử hành Mùa Chay hồng phúc này.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MỪNG VUI LÊN TRONG ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC KITÔ

Bước vào Chúa nhật IV Mùa Chay, còn gọi là Chúa Nhật Laetare. Từ Laetare có nghĩa là “Hãy vui lên”. Vì thế, phụng vụ hôm nay mang một bầu khí khác với những Chúa Nhật trước. Giữa chặng đường của Mùa Chay Thánh, mùa của sám hối, ăn chay, cầu nguyện và gia tang việc lành phúc đức. Đang khi màu tím bao trùm cả Mùa Chay. Giáo Hội khoác lên mình màu hồng của niềm vui và hy vọng. Từ Ca nhập lễ, Thánh vịnh đáp ca, lời tiên tri I-sai-a cho đến Tin Mừng, tất cả đều vang lên những lời đầy niềm vui thiêng thánh.

Mừng vui lên, Giê-ru-sa-lem! Tề tựu cả về đây, hỡi những ai hằng mến yêu Thành! Các bạn đang sầu khổ, nào hớn hở vui mừng và hân hoan tận hưởng, nguồn an ủi chứa chan.” (Ca nhập lễ) Hay lời của Thánh vịnh giaTôi vui mừng khi người ta nói với tôi: Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa. Vui lên nào…” (Tv 122,1). “Cùng Giê-ru-sa-lem khấp khởi mừng… được Thành Ðô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang…đón nhận dồi dào ơn an ủi…” (Is 66,10-11). 

Giáo Hội như người mẹ hiền dừng lại giữa hành trình Mùa Chay để khích lệ con cái mình với lời nhắn nhủ: Anh chị em đã đi được nửa chặng đường rồi, hãy vui lên và tiếp tục tiến bước.

Vui vì được Chúa biết và yêu thương

Mùa Chay là thời gian để Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta. Qua cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái, Chúa muốn chữa lành sự mù lòa trong tâm hồn chúng ta. Chúa Nhật Laetare hôm nay mời gọi chúng ta vui mừng, vì Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta trong bóng tối. Người đã ban cho chúng ta ánh sáng của Đức Ki-tô. Niềm vui của Mùa Chay không phải là niềm vui ồn ào, nhưng là niềm vui sâu xa của người biết mình được Chúa yêu thương như đứa con út có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp của I-sai-a là Đavít (1 Sm 16,12).

Sau khi bảy người con của Isai lần lượt đi qua, Thiên Chúa không chọn ai cả. Cuối cùng, người con út là Đa-vít được gọi về từ ngoài đồng chăn chiên. Chính người nhỏ bé và ít được chú ý ấy lại được Thiên Chúa chọn làm vua (x. Sm 16,1b. 6-7. 10-13a).

Con người thường chú ý đến vẻ bề ngoài, địa vị hay tài năng, nhưng Thiên Chúa tìm kiếm một tâm hồn khiêm tốn và trung thành. Qua câu chuyện trên, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không chọn theo tiêu chuẩn của thế gian. Đây cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta trong Mùa Chay: điều Chúa muốn không phải chỉ là những hình thức đạo đức bên ngoài, nhưng là một con tim biết hoán cải và yêu mến Chúa thật lòng.

Vui vì được làm con cái sự sáng

Giữa hành trình sám hối. Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng Mùa Chay không chỉ là thời gian từ bỏ, nhưng còn là thời gian được ánh sáng Chúa Ki-tô chiếu soi.

Thánh Phao-lô nói: “Bây giờ anh em là ánh sáng trong Chúa” (Ep 5,8). Thế nên, nhờ phép rửa trong Chúa Ki-tô, trước kia chúng ta là những người ở trong bóng tối, nay trở thành “con của sự sáng” (Ep 5,8) hay nói cách khác, trở thành “con cái Thiên Chúa” (1 Ga 3,1). Vì vậy, trong Mùa Chay này, hãy để ánh sáng ấy chiếu tỏa trên chúng ta để qua chúng ta mọi người có thể tìm thấy Thiên Chúa là Ánh Sáng đích thực.

Trong đời sống hôm nay, nhiều người cũng dễ rơi vào “bóng tối”: sống vội vã, chạy theo vật chất, quên cầu nguyện và quên Chúa. Lời của thánh Phao-lô mời gọi chúng ta thức tỉnh, trở về với Chúa qua cầu nguyện, Lời Chúa và Bí tích Hòa Giải. Khi để cho Đức Ki-tô chiếu sáng tâm hồn, chúng ta sẽ biết sống tốt lành và công chính.

Chúa Giê-su là sự sáng thế gian

Đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm Đức Ki-tô là Ánh Sáng từ trời xuống thế, để cho phàm nhân được thấy Người và qua Người họ thấy Chúa Cha; chỉ có người mù mới không thể nhìn thấy Chúa. Người đã mở mắt người mù, để người mù thấy được Chúa Cha ở nơi Người. Người tự giới thiệu: “Ta là sự sáng thế gian” (Ga 9,5; “Là ánh sáng  thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.” (Ga 1,9). Người chữa lành sự mù quáng của con mắt đức tin nơi những người không thấy để mà tin.

Trong đời sống, nhiều khi chúng ta cũng giống như người mù: không nhận ra sự hiện diện của Chúa, không thấy được ý nghĩa của những biến cố trong cuộc đời. Tệ hơn nữa là tình trạng “mù thiêng liêng”, khi tự cho mình biết hết và không cần đến Thiên Chúa.

Mùa Chay là thời gian để chúng ta xin Chúa mở mắt tâm hồn, giúp chúng ta nhìn thấy sự thật về chính mình và về tình yêu của Chúa. Qua việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, ánh sáng của Đức Ki-tô sẽ chiếu soi cuộc đời chúng ta. Khi đó, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành ánh sáng cho người khác, đem niềm tin và hy vọng đến cho mọi người.

Chúa Nhật Laetare hôm nay mời gọi chúng ta vui mừng, vì hành trình Mùa Chay đang dẫn đến ánh sáng của lễ Phục Sinh. Xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta, để chúng ta nhận ra ánh sáng của Người, và để mỗi người cũng trở thành ánh sáng cho gia đình, cho Giáo Hội và thế giới.

Xin Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của mỗi người chúng ta dẫn chúng ta đến gặp gỡ Đức Ki-tô, là Ánh Sáng thật và là Ðấng Cứu Thế. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

ÁNH SÁNG CỦA CHÚA KITÔ SOI CHIẾU CUỘC ĐỜI CHÚNG TA

Khi Chúa Giêsu đi ngang qua Đền Thờ, Ngài thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù?” (Ga 9:2). Câu hỏi ấy phản ánh quan niệm phổ biến thời bấy giờ rằng đau khổ và bệnh tật là hậu quả trực tiếp của tội lỗi: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu” (Ga 9:34).

1. Chúa Kitô là Ánh sáng của thế gian

Nhưng Chúa Giêsu phá vỡ hoàn toàn cách suy nghĩ ấy. Ngài trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9:3).

Lời này khẳng định Thiên Chúa không gây ra đau khổ để chứng tỏ quyền lực của mình. Giáo lý Kitô giáo luôn khẳng định rằng Thiên Chúa không phải là tác giả của sự dữ. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý. Tuy nhiên Ngài cho phép điều đó, vì tôn trọng sự tự do của thụ tạo của Ngài, và một cách bí nhiệm, Ngài biết từ sự dữ dẫn đưa tới điều thiện” (GLHTCG, số 311).

Điều Chúa Giêsu muốn nói là: ngay cả trong những hoàn cảnh tối tăm nhất, Thiên Chúa vẫn chiếu tỏa ánh sáng của Ngài. Đau khổ không phải là điểm kết thúc; đau khổ có thể trở thành nơi Thiên Chúa bày tỏ tình yêu và quyền năng cứu độ.

Sau khi trả lời các môn đệ, Chúa Giêsu tuyên bố một câu rất quan trọng: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9:5). Trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan, ánh sáng là biểu tượng của sự sống, chân lý và sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngay từ đầu Tin Mừng, thánh Gioan đã viết: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5).

Người mù từ thuở mới sinh là hình ảnh của nhân loại sống trong bóng tối của tội lỗi và sự vô minh tâm linh. Con người có thể có đôi mắt sáng rõ thể lý nhưng vẫn mù lòa trước chân lý. Điều đặc biệt là cách Chúa Giêsu chữa lành: “Ngài nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù” (Ga 9:6). Hành động này gợi lại công trình sáng tạo trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” (St 2:7). Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, đang thực hiện một “cuộc sáng tạo mới”. Ngài không chỉ mở mắt một con người, nhưng tái tạo tất cả nhân loại.

Đức Phanxicô giải thích rằng phép lạ này không chỉ là việc chữa lành thể xác mà còn là dấu chỉ thiêng liêng soi rọi tất cả mọi người: “Chúa Giêsu ban ơn thương xót của Ngài cho tất cả những ai Ngài gặp: Ngài kêu gọi họ, kéo họ đến với chính mình, quy tụ họ, chữa lành họ và soi sáng họ, tạo nên một dân tộc mới, là tất cả những những người ca ngợi những điều kỳ diệu của tình yêu thương xót của Ngài.” [1]

2. Con đường đức tin: từ không biết đến tuyên xưng

Tin Mừng Gioan cho thấy một tiến trình rất đẹp nơi người mù được chữa lành. Đức tin của anh phát triển từng bước.

● Bước 1: Chúa Giêsu chỉ là một “người tên là Giêsu.” Khi bị hỏi ai đã chữa lành mình, anh trả lời: “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi…” (Ga 9:11). Ở giai đoạn này, anh chỉ biết Chúa Giêsu như một người bình thường.

● Bước 2: Chúa Giêsu là “một vị ngôn sứ”. Sau khi bị các người Pharisêu chất vấn, anh nói: “Ngài là một vị ngôn sứ!” (Ga 9:17). Anh bắt đầu nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu.

● Bước 3: Chúa Giêsu “bởi Thiên Chúa mà đến.” Anh lập luận mạnh mẽ trước các Pharisêu: “Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9:33).

● Bước 4: Chúa Giêsu là “Con Người”, Đấng đáng được tôn thờ. Cuối cùng, khi gặp lại Chúa Giêsu, anh tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Ngài” (Ga 9:38). Đây là đỉnh cao của câu chuyện: một người mù không chỉ được sáng mắt thể lý mà còn nhận ra Đấng Cứu Thế. 

Trái lại, những người Pharisêu, những “kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39). Đây là nghịch lý lớn nhất: người mù thì thấy, còn những người tưởng mình thấy lại trở nên mù. Các Pharisêu có kiến thức Kinh Thánh, có uy tín tôn giáo, nhưng họ không nhận ra Thiên Chúa đang hành động trước mắt mình. Họ chỉ quan tâm đến luật ngày sabát: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát” (Ga 9:16). Họ đặt luật lệ lên trên con người.

Thánh Gioan Phaolô II từng nói: “Cùng với việc chữa lành người mù, Tin Mừng cũng nêu bật sự hoài nghi của những người Pharisêu, từ chối thừa nhận phép lạ, vì Chúa Giêsu đã làm điều đó vào ngày Sabát, theo phán xét của họ là vi phạm luật Môsê. Như vậy, một nghịch lý hùng hồn xuất hiện, mà chính Chúa Kitô đã tóm tắt bằng những lời: Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù! (Ga 9: 39)” (Kinh Truyền tin, ngày 10 tháng 3 năm 2002, số 2). Bi kịch của sự mù lòa thiêng liêng không phải là thiếu kiến thức, nhưng là đóng chặt tâm hồn.

3. Thiên Chúa nhìn vào trái tim

Con người thường nhìn nhận và đánh giá theo bề ngoài: địa vị, tài năng, vẻ đẹp, sức mạnh. Nhưng Thiên Chúa nhìn vào trái tim, như câu chuyện Thiên Chúa chọn Đavít làm vua. Khi Samuel nhìn thấy Êliáp, ông nghĩ ngay: “Đúng rồi! Người Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Chúa” (1 Sm 16:6). Nhưng Thiên Chúa nói: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16:7). Thiên Chúa nhìn thấy cậu bé Đavít, “người con út đang chăn chiên” (1 Sm 16:11), và chọn cậu làm vua. Điều này giúp ta hiểu sâu hơn câu chuyện người mù trong Tin Mừng. Những người Pharisêu nhìn bằng đôi mắt phàm nhân; họ thấy người mù là một người vi phạm luật sabát. Nhưng Thiên Chúa nhìn thấy một con người đang được biến đổi bởi ân sủng.

Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô viết: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng” (Ep 5:8). Thánh nhân nói thêm: “Ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5:9). Kitô hữu không chỉ đi trong ánh sáng mà còn được mời gọi trở thành ánh sáng.

Ánh sáng của Chúa Kitô biến đổi cách chúng ta sống: sống lương thiện, sống công chính, sống chân thật. Đó là dấu chỉ của đời sống mới. Ánh sáng của Chúa Kitô tỏa ra qua những việc nhỏ bé của tình yêu, vì phép lạ lớn nhất Chúa làm cho ta chính là mở mắt tâm hồn để ta biến đổi chính mình, và xã hội chung quanh, như thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Đừng ai khép kín tâm hồn mình với Chúa Kitô! Ngài ban cho người đón nhận Ngài ánh sáng đức tin, ánh sáng có thể biến đổi tấm lòng, và do đó, biến đổi cả tư duy, tình hình xã hội, chính trị và kinh tế, vốn bị chi phối bởi tội lỗi” (đdt, số 3).

Điều đáng chú ý là sau khi được chữa lành, người mù phải đối diện với nhiều khó khăn. Anh bị chất vấn, bị nghi ngờ, “Rồi họ trục xuất anh” (Ga 9:34). Nhưng chính lúc đó Chúa Giêsu đến gặp anh. Đây là một chi tiết rất đẹp của Tin Mừng: khi thế giới loại trừ anh, Chúa Kitô tìm đến anh (Ga 9: 35). Nhiều khi theo Chúa có thể dẫn đến hiểu lầm, cô lập, hay mất mát. Nhưng chính trong những lúc đó, chúng ta lại gặp Chúa sâu xa hơn, như Thánh Bênađô (1090-1153) khẳng định: “Ngọn lửa bùng cháy dữ dội, nhưng Chúa ở cùng chúng ta trong cơn hoạn nạn… Chính Chúa Kitô đã xuống thế gian để ở gần những người đang buồn rầu trong tâm hồn, để ở cùng chúng ta trong cơn hoạn nạn.” [3] 

4. Lời mời gọi của Mùa Chay

Trong phụng vụ, bài Tin Mừng này được đọc vào Chúa nhật IV Mùa Chay, Chúa nhật “Laetare”, Chúa nhật của niềm vui. Tại sao lại là niềm vui? Bởi vì Mùa Chay không chỉ là thời gian sám hối; đó còn là hành trình từ bóng tối đến ánh sáng. Thánh Phaolô kêu gọi: “Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Chúa Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5:14). Có những lúc chúng ta sống như người ngủ mê: quen với tội lỗi, quen với giả dối, quen với đời sống đức tin hời hợt. Chúa Kitô đến để đánh thức chúng ta.

Câu cuối cùng của bài Tin Mừng hôm nay rất mạnh: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:41). Tội lớn nhất không phải là mù thể lý, nhưng là kiêu hãnh tưởng mình thấy rõ trong khi thực ra là đang mù, mù tâm linh. Kiêu ngạo là nguồn gốc của mọi tội lỗi, vì nó làm cho con người đóng chặt lòng mình lại trước chân lý. Người mù được chữa lành có một thái độ hoàn toàn khác: anh khiêm tốn và thành thật. Anh chỉ nói: “Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!” (Ga 9:25). Đức tin đơn giản như vậy: một kinh nghiệm gặp gỡ sống động với Chúa. Chúng ta đang thấy hay đang mù?

Câu chuyện người mù cũng là câu chuyện của chúng ta. Nhiều khi chúng ta mù trước tình yêu Thiên Chúa, trước sự thật, trước phẩm giá của người khác. Chúa Kitô đã chạm vào mắt chúng ta qua Lời Chúa, các Bí tích và những biến cố của cuộc đời và vẫn mời gọi: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa” (Ga 9:7), nghĩa là hãy bước ra khỏi bóng tối để ánh sáng của Ngài chiếu rọi vào cuộc đời chúng ta.

Thế giới hôm nay có rất nhiều ánh sáng: công nghệ, tri thức, khoa học. Nhưng đồng thời cũng có rất nhiều bóng tối: chiến tranh, bạo lực, sự cô đơn, khủng hoảng ý nghĩa. Đức Bênêđíctô XVI từng nói: “Xét cho cùng, bóng tối thực sự đe dọa nhân loại, chính là việc con người có thể nhìn thấy và nghiên cứu những thứ vật chất hữu hình, nhưng lại không thể thấy thế giới đang đi về đâu hay từ đâu đến, cuộc sống của chính chúng ta đang hướng về đâu, điều gì là tốt và điều gì là xấu…Những điều thuộc về Thượng đế và vấn đề về điều thiện, chúng ta không còn có thể nhận ra được nữa. Đức tin, vốn soi sáng cho chúng ta thấy ánh sáng của Chúa, chính là sự soi sáng đích thực, giúp ánh sáng của Chúa chiếu rọi vào thế giới của chúng ta, mở mắt chúng ta ra để nhìn thấy ánh sáng chân thật” (Bài giảng lễ Vọng Phục Sinh, ngày 7 tháng 4 năm 2012). 

“Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin mở mắt con” để con nhận ra ánh sáng chân lý của Chúa giữa trần gian. Xin biến con trở thành ánh sáng của Chúa chiếu tỏa cho người khác, cho xã hội hôm nay, để thế giới này, từng chút một, được ánh sáng Chúa soi chiếu. 

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.ncregister.com 

[2] https://www.vatican.va 

[3] https://www.catholicace.com, số 13, 19.

CÓ MẮT MÀ KHÔNG THẤY

Thực trạng mù lòa thể lý và mù lòa tâm linh

Bạn có biết hiện nay trên thế giới có bao nhiêu người bị khiếm thị không? Theo như thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, viết tắt là WHO (World Health Organization), thì hiện nay trên thế giới có khoảng 295 triệu người bị khiếm thị.

Đó là con số của những người bị mù lòa về thể lý thôi. Thế nhưng, nếu xét về tình trạng mù lòa về tinh thần, những người mà tiên tri Giêrêmia gọi là “những kẻ có mắt để nhìn mà không thấy”, thì con số còn cao hơn con số 295 triệu rất nhiều. Bạn tin không?

Mù lòa vì đam mê cờ bạc và thú vui tội lỗi

Là chồng, là vợ, là linh mục, nếu tôi đam mê bài bạc, cá độ football, casino, thì lúc đó tôi đang bị mù, bởi vì tôi không thấy những nguy hại do đam mê cờ bạc và cá độ gây ra.

Đó là sự nghèo đói. Tôi cũng không thấy những sự chán nản, thất vọng, ưu phiền nơi cha mẹ, vợ chồng, con cái và giáo dân của tôi.

Mù lòa vì bất trung trong đời sống gia đình

Là cha mẹ, nếu tôi không trung tín với nhau, phạm tội ngoại tình, cứ đi gieo vãi tình cảm lăng nhăng, hết bồ nhí đến kép nhí, thì lúc đó tôi đang bị mù, bởi vì tôi không thấy được những nguy hiểm đang chờ đón tôi.

Đi đêm có ngày gặp ma. Cứ quan hệ tình dục lăng nhăng là thể nào cũng có ngày dính bệnh si-đa, bệnh hoa liễu, con rơi con rớt, phải trả tiền child support. Gia đình tan nát, con cái bỏ bê việc học hành, bê tha, rượu chè, hút sách.

Mù lòa vì gian dối và những hậu quả nặng nề

Là chồng, là vợ, nếu tôi làm đơn ra tòa để ly dị giả, về Việt Nam làm hôn thú giả, đưa người khác qua đây để kiếm một mớ tiền dưỡng già, thì lúc đó tôi đang bị đui mù, bởi vì tôi không thấy những hậu quả do việc làm gian dối này gây ra: bị tù, bị phạt tiền, và tệ hơn nữa, làm cho con cái của tôi chán nản, bỏ học, hút xì ke ma túy.

Bởi vì nó không ngờ cha nó hay mẹ nó lại bê bối như vậy, vì chúng đâu biết là giả. Đó là chưa kể đến chuyện chơi hóa ra thiệt. Lúc đầu chỉ là giả thôi, nhưng sau đó thành thiệt. Thế là gia đình tan nát.

Mù lòa trong đời sống linh mục

Là linh mục, nếu tôi không chú tâm vào đời sống cầu nguyện, không sốt sắng trong việc cử hành Thánh lễ, không lo giữ gìn ngũ quan, không chịu học hỏi Kinh Thánh, chỉ lo đến của cải vật chất thế gian, danh vọng và chức quyền, thì tôi sẽ không thấy những nguy hiểm đang rình rập.

Ơn gọi sẽ mất, giáo dân sẽ thất vọng, họ sẽ khô khan, nguội lạnh. Có khi họ bỏ giáo xứ, lìa bỏ Giáo Hội và bỏ cả Chúa nữa.

Mù lòa của cha mẹ trong đời sống gia đình

Là cha, là mẹ, nếu tôi chỉ lo kiếm tiền, không có giờ lo cho bản thân, không có giờ lo cho chồng, cho vợ, cho con cái, không có giờ đi lễ, không có giờ chăm lo cho phần linh hồn của mình và của con cái, thì lúc đó tôi đang bị mù lòa, bởi vì tôi không thấy những sự nguy hiểm đang tràn ngập trong gia đình của tôi.

Ví dụ như con cái của tôi suốt ngày làm bạn với phim ảnh, trò chơi điện tử, với Internet, rồi có ngày nó sẽ diễn những trò khỉ y như các diễn viên trong phim ảnh: bỏ bê việc học hành, hút sách, chơi bời, trác táng.

Tôi không thấy con cái bị bệnh béo phì và bệnh tật, bởi vì tôi không có giờ nấu ăn cho chúng. Con cái tôi chỉ ăn fast food, ăn tiệm quanh năm ngày tháng, không có đủ chất dinh dưỡng.

Tôi không thấy tình cảm giữa tôi và con cái đang dần nhạt nhẽo và lạnh lùng. Tôi cũng không thấy con cái tôi đang khao khát sự quan tâm, chăm sóc và cảm thông của tôi.

Ba việc cần làm để chữa lành đôi mắt tâm linh

Bạn thân mến, nếu hôm nay bạn nhận ra rằng bạn đang sống trong tình trạng tăm tối, con mắt tâm linh của bạn đang bị mù lòa, thì xin hãy cố gắng làm ba việc sau.

1. Cầu nguyện

Thứ nhất, cầu nguyện. Xin Chúa soi sáng để bạn có thể nhìn thấy những nguy hiểm, những tai hại và những hậu quả khốc liệt do sắc dục, do tính đam mê cờ bạc, do việc bất tín, bất trung, do những tham lam gây ra.

2. Lãnh nhận Bí tích Hòa giải

Thứ hai, lãnh nhận Bí tích Hòa giải. Hãy chạy đến tòa giải tội xin Chúa tha thứ.

Tòa giải tội chính là phòng mạch của Bác sĩ Giêsu. Nơi đây, tất cả mọi vết thương và bệnh tật về phần tâm linh sẽ được chữa lành.

3. Tham dự Thánh lễ

Thứ ba, tham dự Thánh lễ. Trong Mùa Chay này, xin bạn hãy cố gắng siêng năng đến tham dự Thánh lễ. Vì chỉ ở trong Thánh lễ, bạn mới được lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa. Khi đó, bạn có Chúa ở cùng bạn; Ngài sẽ ban ơn giúp sức để bạn có đủ sức chống lại những cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.

Lời kết

Tôi tin chắc rằng khi đôi mắt tâm linh và cặp mắt thể xác của chúng mình ở trong tình trạng sáng, trong tình trạng khỏe mạnh, thì lúc đó tôi và bạn mới có được hạnh phúc bình an. Và khi đó, chúng mình mới có thể nhìn thấy những kỳ công mà Chúa đã và đang thực hiện trong đời sống của chúng ta. Nhờ thế, bạn và tôi mới có thể mở miệng ca khen và cảm tạ Ngài.

Cầu chúc bạn và gia đình những ngày Chay Thánh này luôn bình an và nhiều ơn Chúa.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ÁNH SÁNG NIỀM TIN

1. Cuộc đời trong bóng tối

Ngày nào cũng vậy, anh vẫn ngồi ở đây, tai lắng nghe bao điều từ cuộc sống. Cuộc đời anh là những tháng ngày dài sống trong bóng đêm dày đặc; anh là người mù từ thuở mới sinh. Anh không thể nhìn thấy dù chỉ là một tia sáng nhỏ.

Anh vẫn tin mặt trời đang chiếu sáng trên anh; anh cảm nhận được cái nóng gắt của ánh nắng mặt trời đang phả lên da thịt mình. Đôi tai anh nghe rất rõ những gì người ta bàn tán về bản thân mình, về bố mẹ mình. Người ta xem anh là kẻ có tội, là một đứa con của những người tội lỗi. Có lẽ, chẳng bao giờ anh có thể nghe được những lời yêu thương mà người khác có thể dành cho anh.

2. Cuộc gặp gỡ làm đổi đời

Cho đến một ngày, anh đã gặp Người. Đó là Thầy Giê-su.

Thầy Giê-su đã đi ngang qua chỗ anh ngồi, và Thầy đã dừng lại. Thầy dừng lại bên cuộc đời đầy cay đắng và tủi nhục của anh; Thầy cúi xuống trên nỗi đau của anh và xoa dịu nó.

Các môn đệ của Thầy thắc mắc về việc anh bị mù. Phải chăng đó là do chính tội lỗi của anh hay của cha mẹ anh (x. Ga 9,2)? Những lời ấy làm cho anh thêm tê tái; anh thấy đời mình càng thêm tăm tối và anh co mình lại trong tổn thương.

Giữa nhịp sống vội vã, người ta vẫn dừng lại bên đời nhau, nhưng rồi họ lại vô tình gây cho nhau những tổn thương. Cũng giống như các môn đệ, không ít lần những thắc mắc của chúng ta về những người anh chị em lại trở thành những con dao vô hình đâm nát nỗi đau của họ. Đâu mới là sự nâng đỡ mà chúng ta có thể dành cho họ?

3. Lời bênh vực đầu tiên

Thầy nói rằng: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội” (Ga 9,3).

Lần đầu tiên có một người lạ lên tiếng bênh vực anh. Dù anh không thấy được ánh mắt trìu mến của Thầy đang dừng lại trên anh, nhưng đôi tai anh nghe rõ lời Thầy nói. Lời ấy như một dòng nước trong lành chảy vào lòng anh, làm vơi đi ưu phiền.

Thầy nói với các môn đệ nhiều điều; anh cũng nghe, nhưng tâm trí anh đã dừng lại trên lời này: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5).

Ánh sáng là một điều gì đó quá xa lạ với anh, nhưng cũng chính là điều anh hằng khao khát.

4. Từ bóng tối đến ánh sáng

Đã từ rất lâu, anh ao ước được nhìn thấy như một người bình thường. Niềm khao khát ấy, anh chỉ giữ riêng trong lòng mình biết. Anh nghe tiếng Thầy nói nhưng không nhìn thấy Thầy.

Thế rồi, Thầy đã chạm vào đôi mắt tật nguyền của anh. Thầy xức bùn vào mắt anh. Những đụng chạm này thật ý nghĩa; đó chính là một sự vuốt ve đầy âu yếm mà lần đầu tiên anh nhận được.

Theo lời Thầy căn dặn, anh lần mò tìm đến hồ Si-lô-ác để rửa. Anh đi trong sự tối tăm của đôi mắt nhưng lòng tràn hy vọng. Hy vọng chính là ánh sáng dẫn anh bước đi.

Anh đã rửa, và bây giờ anh nhìn thấy.

Cuộc đời của anh chưa bao giờ có được một niềm vui lớn lao như thế. Anh xúc động mạnh mẽ. Anh muốn chạy thật nhanh để báo cho cha mẹ biết, muốn hét thật to để nói cho mọi người biết rằng anh đã nhìn thấy.

5. Làm chứng cho sự thật

Người ta thấy anh; có người nhận ra anh, nhưng có người lại ngờ vực, cho rằng đó chỉ là một người giống anh (x. Ga 9,8-9). Còn anh thì quả quyết: “Chính tôi đây!”

Người ta thắc mắc về việc anh được sáng mắt, và anh đã kể lại những gì đã xảy đến cho anh. Những người Do-thái không tin lời anh nói nên cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần về sự việc anh đã được mở mắt như thế nào. Anh kiên nhẫn và can đảm nói rõ cho họ biết.

Anh can đảm làm chứng về ân huệ mình nhận được từ vị ngôn sứ Giê-su, và cuối cùng, vì sống và làm chứng cho sự thật, anh bị trục xuất khỏi hội đường.

Anh đã lên tiếng bênh vực cho Đấng mang lại ánh sáng cho mình.

6. Đích điểm của hành trình đức tin

Anh gặp lại Người không phải như một sự tình cờ, nhưng do bởi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Thầy Giê-su hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh muốn biết Đấng ấy là ai, và khi biết Đấng ấy chính là Thầy Giê-su mà anh yêu mến, thì anh reo lên: “Tôi tin!” Anh sấp mình xuống trước mặt Người.

Hành trình đức tin của anh đã đạt đến đích điểm sau khi đã được trải qua muôn vàn thử thách.

Chúng ta có mang lấy niềm vui của người được sáng mắt khi được lãnh nhận ánh sáng đức tin và sống cho niềm tin vào Chúa Kitô không?

7. Lời nguyện

Lạy Chúa Giê-su! Được nhìn thấy ánh sáng là một ân huệ tuyệt vời mà Chúa ban tặng cho chúng con. Hơn hết, chúng con được sống trong ánh sáng niềm tin vào Chúa.

Cuộc đời chúng con vẫn dễ nghiêng chiều theo bóng tối. Có nhiều lúc, chúng con đã tự khiến mình ra mù lòa khi không đi trong ánh sáng của Chúa.

Xin Chúa lôi kéo chúng con về nguồn ánh sáng tình yêu của Chúa, để chúng con được reo vui mãi vì biết rằng chúng con được Chúa yêu thương. Amen.

Bông hồng nhỏ

AI SÁNG, AI MÙ!

Từ người phụ nữ Sa-ma-ri đến người mù từ thuở mới sinh

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Thánh Gio-an đã thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a tại bờ giếng Gia-cóp. Bà đã được biến đổi và tin rằng chỉ có Chúa mới lấp đầy nỗi khát vọng của con người mà thôi.

Hôm nay, sau khi tham dự các nghi lễ tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, trên đường đi ra, Đức Giê-su và các môn đệ nhìn thấy người mù từ lúc mới sinh.

Trước ngày hôm nay, người mù ngồi đó mà như không có. Anh không nhìn thấy ai, và người ta cũng không nhìn thấy anh như một tạo vật của Thiên Chúa. Người ta coi sự mù lòa của anh là hậu quả của tội lỗi.

Hôm nay, với Đức Giê-su, người mù đã trở thành tạo vật mới. Sự hiện diện của anh là một bằng chứng sống động để tôn vinh Thiên Chúa. Tuy nhiên, những người hàng xóm, những viên chức lãnh đạo và thậm chí cả cha mẹ anh vẫn không nhìn ra công trình của Thiên Chúa đã làm anh thay đổi!

Như vậy, giữa anh và họ, ai bị mù?

Cái nhìn của các môn đệ: một câu hỏi thần học bị bóp méo

Trước hết, chúng ta hãy xem thái độ của các môn đệ. Họ nhìn anh và thấy một câu hỏi thần học: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này vừa sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”

Tầm nhìn của họ đã bị bóp méo, bởi họ tin rằng đau khổ, bệnh tật và sự chết là hậu quả của tội lỗi.

Còn đối với Đức Giê-su, Người biết phải làm gì. Người đến để đem ánh sáng cho trần gian, và ánh sáng đó hôm nay được thể hiện qua một việc làm rất cụ thể là làm cho người mù từ thuở mới sinh được nhìn thấy. Qua dấu lạ này, Đức Giê-su đã bộc lộ vinh quang của Thiên Chúa nơi Người.

Người mù được sáng: từ ánh sáng thể lý đến ánh sáng đức tin

Sau khi làm cho người mù được sáng mắt, Đức Giê-su biến mất, nhường lại vị trí cho người vừa được sáng mắt có cơ hội làm chứng và tuyên xưng niềm tin của ông.

Ông đã trở nên tạo vật mới. Từ trước đến giờ, ông chưa nhìn thấy điều gì; đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy ánh sáng. Ánh sáng thể lý mà ông vừa được sáng tạo là bước đầu dẫn ông nhận ra nguồn sáng thiêng liêng mà ông nhận được từ Đức Giê-su, Đấng đã lấy bùn làm thuốc, dẫn sai anh đi, và anh đã đi, đã rửa và đã nhìn thấy.

Những người láng giềng: tưởng sáng mà vẫn mù

Trong khi đó, với những người láng giềng thì anh vẫn bị xem như là người bị mù.

Quả thật, đây là hai hình ảnh trái ngược nhau: người vừa được sáng mắt đã nhìn thấy, còn những người láng giềng không nhìn thấy diễn tiến của sự việc, nên họ không nhận ra việc anh được sáng mắt.

Họ tưởng là mắt của họ sáng, nhưng thực ra họ không nhìn ra sự thay đổi mà Đức Giê-su đã làm cho người mù; cho nên họ vẫn mù tối trong lối suy nghĩ và trong cái nhìn bị đóng khung của họ.

Những người Pha-ri-sêu: mù quáng vì khước từ dấu chỉ

Sau đó, anh bị dẫn đến trình diện những người lãnh đạo tôn giáo, thuộc phái Pha-ri-sêu. Hai lần họ thẩm vấn anh. Hai lần anh đã làm chứng và tôn vinh Thiên Chúa.

Anh đã dõng dạc trả lời cho họ biết rằng: “Đức Giê-su là một ngôn sứ.”

Một bước tiến trên hành trình đức tin của anh được tỏ hiện khi tuyên xưng Đức Giê-su là ngôn sứ.

Trong khi đó, mắt của những người thuộc phái Pha-ri-sêu vẫn bị đóng kín bởi lối suy nghĩ dựa vào truyền thống của họ. Họ mù quáng vì đã chọn không nhìn vào các dấu chỉ mà Đức Giê-su đã thực hiện.

Họ đã chọn quyền lực, quy tắc, truyền thống, tập tục và giai cấp để đối chọi với sự thật mà Đức Giê-su đem đến; cho nên họ không nhận ra Người là Đấng Cha sai đến, là Ánh Sáng cho trần gian.

Cha mẹ người mù: biết sự thật nhưng không dám làm chứng

Ngay cả cha mẹ anh cũng không muốn xác nhận những gì đã xảy ra cho anh. Họ không muốn dính vào sự thay đổi mà con của họ vừa mới trải qua.

Họ xác nhận về cuộc sống quá khứ của anh: con của họ bị mù từ thuở mới sinh, và đó không phải là lỗi của họ. Còn những gì vừa xảy ra cho anh thì họ chối là không biết gì cả. Họ không dám làm chứng cho sự thật vì sợ bị trục xuất khỏi hội đường.

Ai thực sự mù?

Nói chung, tất cả mọi người, từ cha mẹ anh đến những người hàng xóm và những người lãnh đạo tôn giáo thời đó, đã nhìn nhưng không ai thấy anh. Bởi vì, nếu họ thấy anh thì họ sẽ phải đối diện với sự mù quáng của họ.

Sự khác biệt giữa anh và họ là anh biết anh bị mù, còn họ tưởng mình sáng mắt, nên họ phải trả lời cho đôi mắt không nhìn thấy của họ, như Đức Giê-su đã phán dạy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn.” (Ga 9,41)

Đích điểm của hành trình đức tin: thấy và tin

Sau khi người mù vừa được sáng mắt bị trục xuất, thì Đức Giê-su, Đấng đã bị trục xuất trước, đến gặp anh.

Trong cuộc gặp gỡ này, Đức Giê-su bộc lộ căn tính của Người. Lập tức, vừa nghe đến đó, anh vội vàng quỳ xuống và tôn vinh Người.

Anh đã thấy và anh đã tin Đức Giê-su, Người vừa ban ánh sáng cho anh, là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà anh và chúng ta có sự sống nhờ Danh Người.

Anh đã đi đến đích điểm của lòng tin, trong khi đó những người tự nhận mình là sáng mắt lại cứ sống trong u tối, vì tự trói mình trong “sự khôn ngoan” của một hệ thống tôn giáo đóng kín của họ!

Áp dụng vào đời sống: chúng ta vẫn có thể mù trong chính ánh sáng

Thưa anh chị em,

Nhờ tin vào Danh của Đức Giê-su mà chúng ta có sự sống, chúng ta được chiếu sáng. Nhưng trên thực tế, chúng ta vẫn còn đi trong bóng đêm, vẫn còn sống trong mù lòa.

Mù không phải vì không nhìn thấy gì. Mù cũng không phải vì bóng tối đang bao phủ quanh chúng ta. Thật ra, chúng ta mù vì định kiến, vì bóng tối trong ta che lấp mọi sự. Nó bao gồm cách chúng ta nhìn người khác và những gì chúng ta nhìn thấy chung quanh mình.

Câu chuyện minh họa: cửa sổ bẩn hay cái nhìn bẩn?

Sau đây là một sự việc mà chúng ta gặp và vấp phải hằng ngày. Truyện kể như sau.

Số là, trong một xóm giáo kia có một gia đình trẻ mới dọn đến. Họ được bà chủ nhà và những người hàng xóm làm quen và tìm cách giúp đỡ.

Vào một ngày nọ, bà chủ nhà nhìn ra cửa sổ nhà của bà và nhận xét: “Ôi trời ơi, nhìn kìa, sao cô gái trẻ mới đến thuê căn flat của nhà mình lại phơi những bộ quần áo bẩn lên dàn phơi như thế.”

Ngày hôm sau, bà lại tiếp tục than phiền: “Ôi trời ơi, nhìn quần áo của mấy đứa trẻ con của họ, sao mà bẩn thế…”

Rồi bà nghĩ rằng người phụ nữ trẻ kia chắc không biết giặt quần áo, hoặc có lẽ gia đình cô ấy chưa sắm được một chiếc máy giặt tốt.

Chuyện này cứ tiếp diễn hết lần này đến lần khác, và người chồng của bà nghe bà phàn nàn mà ông vẫn không nói gì cả.

Rồi vào một buổi sáng sớm kia, bà gọi chồng ra nhìn qua cửa sổ và nói: “Anh ơi, hãy nhìn, nhìn cho rõ! Sao hôm nay quần áo của cô ấy và các con lại sạch và mới quá. Chắc là có ai đó đã dạy cô ấy cách giặt, hoặc có lẽ cô ấy mới mua một chiếc máy giặt hiện đại.”

Lúc đó, người chồng mỉm cười và chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Thật ra sáng nay anh đã dậy sớm hơn và lau sạch cửa sổ của nhà mình.”

Bài học: định kiến làm mù đôi mắt tâm hồn

Từ câu chuyện này, chúng ta có thể thấy rằng trong cuộc sống, đã nhiều lần cách chúng ta nhìn người khác bị che mờ bởi thành kiến, sự ghét bỏ, cơn giận dữ hay lòng kiêu ngạo…

Vì thế, chúng ta hãy tự hỏi: nếu những điều đó cản trở chúng ta, thì điều gì sẽ dẫn người khác đến với Đức Ki-tô?

Từ kinh nghiệm chung của chúng ta, khi nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta nhận ra rằng những người giúp chúng ta trưởng thành chính là những người nâng đỡ và cảm thông với chúng ta, chứ không phải những người phán xét và kết án chúng ta đâu!

Xin Chúa mở mắt lòng chúng ta

Chính vì thế, chúng ta hãy nhìn Thiên Chúa, con người, sự vật hay hoàn cảnh như đã xảy ra theo ý muốn của Người khi tạo dựng chúng ta và vũ trụ này. Tất cả mọi sự Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp!

Và nếu chúng ta muốn thấy Chúa, nhìn ra cuộc sống mình và những người khác như họ thực sự hiện diện, thì mắt chúng ta phải được Đức Ki-tô mở ra trước.

Chúng ta phải thay đổi, không chỉ nhìn bằng đôi mắt, mà bắt đầu tập nhìn bằng trái tim nhân hậu mà Thiên Chúa đặt để trong mình.

Muốn được như thế, chúng ta cần khám phá Đức Giê-su là ai trong cuộc sống của mình trước. Chúng ta có nhận ra tình yêu thương của Đức Giê-su trong tôi không?

Bởi vì, nếu chúng ta không cảm nhận tình yêu của Người trong cuộc sống mình, thì cách cư xử của chúng ta giống như những người láng giềng, như những người lãnh đạo, thậm chí giống như cha mẹ của người mù mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ không nhìn nhận các diễn tiến xảy ra trong cuộc sống của anh.

Cảnh tỉnh cuối cùng

Tất cả chúng ta đều bị mù trong cuộc sống. Và trong hoàn cảnh bị mù lòa mà cứ tưởng mình sáng mắt, nên chúng ta dần dần đánh mất tình yêu, tiêu hủy dần dần các mối quan hệ khi chúng ta sống trong sự cạnh tranh, luôn ước ao chiếm vị trí đầu trong mọi công tác để tìm sự tán dương và khen thưởng nơi người khác.

Chúng ta bị sức ép của danh vọng, uy quyền và tiếng khen chi phối. Chúng ta lầm tưởng rằng những gì chúng ta có được là do cố gắng và năng lực của bản thân mà quên đi bao đóng góp, hy sinh của nhiều người đã gây dựng và hình thành trong cuộc sống mình.

Sau cùng, chúng ta hãy xin Chúa mở mắt để nhận ra sự hiện diện của Đức Giê-su trong cuộc sống mình và có cái nhìn như cái nhìn của Chúa trong cách cư xử với nhau. Amen!

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

ÁNH SÁNG NHÌN THẤU TRÁI TIM

Khi trời đang trưa mà người ta vẫn không thấy ánh sáng. Không phải vì mặt trời đã tắt. Nhưng vì ánh sáng quá mạnh làm người ta lóa mắt.

Giữa trưa nắng gắt, nếu nhìn thẳng vào mặt trời, đôi mắt sẽ phải khép lại. Không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì ánh sáng quá chói

Và cũng có những người nhắm mắt lại, để khỏi phải nhìn thấy.

Ánh sáng vẫn ở đó, chan hòa trên cánh đồng, trên mái nhà, trên từng con đường. Nhưng nếu một người cố ý khép chặt đôi mắt mình, thì dù đứng giữa ban trưa, người ấy vẫn ở trong bóng tối.

Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta vào chính nghịch lý ấy. Một người mù từ thuở mới sinh lại trở thành người thấy rõ nhất. Còn những người tưởng mình sáng mắt lại là những kẻ mù sâu nhất.

1. THIÊN CHÚA KHÔNG CHỈ NHÌN. CHÚA NHÌN THẤU.

Bài đọc thứ nhất kể lại một câu chuyện rất quen thuộc trong Kinh Thánh. Tiên tri Samuel được sai đến nhà Giêsê để tìm vị vua mới cho Israel. Trước mặt ông là những chàng trai cao lớn, vạm vỡ, dáng vẻ đường hoàng.

Theo cách nhìn của con người, đó hẳn phải là những người xứng đáng. Nhưng Thiên Chúa nói với ông: "Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy,
còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng".
Và thế là người được chọn lại là Đavít, cậu bé chăn chiên nhỏ nhất trong nhà.

Trước mặt Thiên Chúa, con người có đẹp hay không, không quan trọng; có vạm vỡ hay không, không quan trọng; có vẻ ngoài đáng nể hay không, cũng không quan trọng. Điều Thiên Chúa tìm kiếm là một trái tim.

Một trái tim mềm mại, một trái tim không khép lại trước Thiên Chúa, một trái tim biết để Chúa tự do nhào nặn. Chỉ những trái tim như thế mới có thể được Chúa chạm đến, gìn giữ, và làm cho nên vĩ đại.

2. ĐIỀU ĐÁNG SỢ KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN CHÚA CHỐI BỎ.

Nhiều người sợ rằng, Thiên Chúa chối bỏ mình. Nhưng điều đáng sợ hơn nhiều lại là: Con người tự làm mình xa Thiên Chúa. Không sợ Thiên Chúa quay lưng, chỉ sợ con người bưng tai bịt mắt để khỏi nhận ra Chúa.

Tin Mừng hôm nay cho thấy một điều rất lạ. Người mù từ thuở mới sinh lại là người đi vào ánh sáng. Còn những người tự tin rằng mình hiểu luật, hiểu đạo, hiểu Thiên Chúa, lại dần dần đi sâu vào bóng tối.

3. BÙN CỦA ĐẤT VÀ CÔNG TRÌNH SÁNG RẠO MỚI.

Cách Chúa Giêsu chữa lành cho người mù thật lạ. Tin Mừng kể rằng Chúa nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn, rồi xức vào mắt anh.

Bùn. Một thứ rất bình thường của mặt đất.

Nhưng từ bụi đất, Thiên Chúa đã nắn nên con người thuở ban đầu. Vì thế khi xức bùn lên đôi mắt người mù, Chúa Giêsu như đang làm lại công trình sáng tạo. Chúa chữa một đôi mắt, đồng thời Chúa tái tạo một con người.

Người mù đi đến hồ Silôác để rửa. Và khi trở lại, anh thấy. Phép lạ lớn nhất không chỉ đôi mắt mở ra. Phép lạ lớn nhất là hành trình đức tin của anh.

4. HÀNH TRÌNH TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ĐỨC TIN.

Ban đầu anh chỉ biết nói: "Người ta gọi là Giêsu".

Sau đó anh nói: "Người ấy là một ngôn sứ".

Rồi anh mạnh dạn bảo vệ Chúa trước những kẻ đang tra hỏi mình.

Và cuối cùng, khi Chúa Giêsu gặp lại anh và hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?". Anh thưa: "Lạy Ngài, tôi tin".

Đôi mắt anh được mở ra. Nhưng quan trọng hơn, trái tim anh đã mở ra trước ánh sáng.

5. SỰ MÙ LÒA NGUY HIỂM NHẤT.

Điều đau lòng trong câu chuyện hôm nay không phải là người mù. Điều đau lòng là những người không muốn thấy. Các người Pharisêu thấy phép lạ, nghe lời chứng, đứng trước sự thật nhưng vẫn tìm cách phủ nhận. Không phải vì họ thiếu ánh sáng. Nhưng vì ánh sáng làm họ khó chịu.

Ánh sáng buộc con người phải nhìn thấy sự thật về mình. Vì thế, nhiều người thà ở lại trong bóng tối còn hơn bước ra ánh sáng.

6. ÁNH SÁNG VẪN KIÊN NHẪN.

Nhưng Thiên Chúa thì khác. Con người có khép lòng đến đâu, Chúa vẫn không bỏ cuộc. Chúa kiên nhẫn chờ đợi. Chúa vẫn âm thầm gõ cửa trái tim con người. Chúa vẫn muốn lấp đầy khát vọng sâu xa nhất của con người bằng chính mình.

Không phải chỉ ban cho con người một tia sáng nhỏ. Nhưng ban cho họ chính Ánh Sáng. Không phải chỉ cho họ một chút hy vọng. Nhưng trao ban chính sự sống đời đời của Thiên Chúa.

7. ÁNH SÁNG ĐANG Ở RẤT GẦN.

Phép lạ hôm nay không chỉ là câu chuyện của ngày xưa. Ánh sáng ấy vẫn đang ở rất gần chúng ta. Ánh sáng ấy chính là Đức Kitô.

Chúa đứng rất gần con người. Gần đến mức nhiều khi chúng ta không nhận ra.

Có những người sống cả đời bên cạnh ánh sáng mà vẫn ở trong bóng tối. Không phải vì họ không gặp Chúa. Nhưng vì họ không mở lòng để gặp Ngài.

8. MỘT CÂU HỎI KHÔNG THỂ NÉ TRÁNH.

Và rồi Tin Mừng kết thúc bằng một câu nói rất lạ của Chúa Giêsu: "Ta đến thế gian này để xét xử: cho người không thấy được thấy, và kẻ thấy lại trở nên đui mù".

Nghe qua, có vẻ Chúa đang nói về người mù và những người Pharisêu ngày xưa. Nhưng thật ra Chúa đang nói về mỗi chúng ta hôm nay.

Bởi vì khi ánh sáng của Chúa Kitô đến gần một con người, điều gì đó sẽ xảy ra:

- Nếu trái tim mở ra, người ấy sẽ thấy.

- Nhưng nếu trái tim khép lại, người ấy sẽ mù hơn trước. Không phải vì Thiên Chúa làm cho họ mù. Nhưng vì họ nhắm mắt lại trước ánh sáng.

Và thật lạ, trong suốt câu chuyện dài của Tin Mừng hôm nay, có nhiều người tự tin rằng mình hiểu biết, mình sáng mắt, mình biết Thiên Chúa. Nhưng cuối cùng, chỉ có một người thực sự nhìn thấy Chúa. Đó là người mù ngày trước. Có lẽ vì anh đã quen sống trong bóng tối, nên khi ánh sáng đến, anh không sợ mở mắt.

Còn chúng ta thì sao? Khi ánh sáng Chúa Kitô chiếu vào đời mình, chúng ta sẽ trở thành người thấy… hay vẫn là những người tưởng rằng mình đang thấy?

9. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI MUỐN THẤY.

Lạy Chúa, nếu con đang mù mà không biết mình mù, xin mở mắt con.

Nếu con đã thấy ánh sáng của Chúa, xin cho con thuộc về ánh sáng nhiều hơn nữa.

Và nếu con đang đứng giữa ban trưa của tình yêu Chúa mà vẫn còn nhắm mắt, xin đừng để con tiếp tục sống trong bóng tối.

Để một ngày kia, khi gặp Chúa mặt đối mặt, chúng con cũng có thể thưa như người mù năm xưa: "Lạy Ngài, con tin". mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan