SUY NIỆM CHÚA NHẬT PHỤC SINH_A
Lời Chúa: Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9
CHẾT VÀ SỐNG LẠI – + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên
CÓ THỂ TIÊU DIỆT NHỮNG SỰ SỢ HÃI KHÔNG? – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
TỪ NHỮNG CHIẾC KHĂN LIỆM ĐƯỢC XẾP GỌN – Phêrô Phạm Văn Trung
ÁNH SÁNG BỪNG LÊN TRONG ĐÊM TỐI – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
TÂM TÌNH PHỤC SINH – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Cốt lõi của lời rao giảng Kitô giáo: Đức Giê-su đã chết và đã sống lại! Đó là khẳng định của Kitô giáo từ hai mươi thế kỷ nay. Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo Hội Kitô, ngay từ những ngày đầu.
I. Đức Giê-su đã chết thật trên Thập giá
1. Không có sự phục sinh nếu không có cái chết thật
Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây Thập giá. Bởi lẽ, nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại. Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.
Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh. Cả bốn tác giả Phúc Âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.
2. Các Tông Đồ làm chứng về Chúa phục sinh
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Người cũng là Thiên Chúa quyền năng. Vì thế, thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.
Các Tông Đồ đều làm chứng: Chúa Giê-su đã sống lại. Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ, ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường. Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai mà Thiên Chúa của tổ phụ chúng ta đã hứa. Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết. Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.
Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-ru-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần. Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.
II. Cái chết của Đức Giê-su là hy tế mới và vĩnh viễn
1. Cái chết trên thập giá được hiểu dưới ánh sáng phụng vụ
Ngay từ thời sơ khai, Giáo Hội Kitô đã suy tư về cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ. Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.
Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Mô-sê, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…
2. Hy lễ cũ nhường chỗ cho hy lễ mới
Tác giả thư gửi tín hữu Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” (Hr 10,4-7)
Như thế, theo giáo lý Kitô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa. Hy lễ xưa chỉ là hình bóng; nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước. Vì vậy, trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo), chúng ta hát: “Nghi lễ xưa nhường lối cho nghi lễ mới”; hoặc theo một bản dịch khác: “Phụng tự xưa nhường cho phụng tự mới.”
III. Giáo huấn của Hội Thánh về hy tế cứu độ của Đức Kitô
Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Kitô đồng thời vừa là hy lễ Vượt Qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao Ước Mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hoà con người với Thiên Chúa nhờ ‘máu đổ ra cho muôn người được tha tội’.” (GLHTCG, số 613)
IV. Mầu nhiệm Nhập Thể: Con Thiên Chúa mang lấy xác phàm để có thể chết
Thánh Âu-tinh đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc:
“Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta. Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết. Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết.” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh)
Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người. Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.
V. Kitô hữu được mời gọi chết và sống lại với Đức Kitô
1. Mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su
Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Kitô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sự sống lại của Người nơi chính bản thân mình.
Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.” (2 Cr 4,10)
Thật là một điều kỳ lạ! Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân. Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.
2. Mỗi ngày chết đi cho tội lỗi để sự sống lớn lên
Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen. Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.
Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của người Kitô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự.” Đó là những cố gắng, nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.
VI. Đời sống Kitô hữu là một lễ dâng
1. Nếu cái chết của Chúa là hy tế, thì đời sống tín hữu cũng là của lễ
Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của người Kitô hữu cũng là một lễ dâng.
Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.” (Rm 12,1)
2. Những hy sinh hằng ngày là của lễ đẹp lòng Chúa
Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.
Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.
VII. Sống lại ngay hôm nay trong mọi hoàn cảnh
Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta. Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.
Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau,” người Kitô hữu vừa xác tín vào sự sống lại trong ngày tận thế, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Kitô, nếu chúng ta cùng chết với Người.
Từ thập giá đến sự sống mới
Mầu nhiệm Đức Giê-su chết và sống lại không chỉ là một chân lý phải tuyên xưng, nhưng còn là một lối sống phải bước theo.
Tin vào Đấng đã chết và sống lại là chấp nhận để đời mình được thanh luyện mỗi ngày: chết đi cho tội lỗi, ích kỷ và sự cũ kỹ; đồng thời sống lại trong ân sủng, trong đức ái, trong niềm hy vọng và trong sự sống mới của Đức Kitô.
Đó chính là con đường của người Kitô hữu: đi qua thập giá để tới vinh quang, đi qua cái chết để bước vào sự sống. mục lục
+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên
CÓ THỂ TIÊU DIỆT NHỮNG SỰ SỢ HÃI KHÔNG?
Những kinh nghiệm rất thật về sự sợ hãi
Ai trong chúng ta cũng đã từng có những kinh nghiệm về sự sợ hãi. Ví dụ, ở Việt Nam biến cố sau năm 1975. Rồi khi qua định cư ở Mỹ, ở Canada, ở Úc, ở Đức thì bạn và tôi lại sợ bị thất nghiệp, sợ không có tiền trả bills, sợ tai nạn xe cộ, sợ bảo hiểm tăng, sợ bệnh tật, sợ bị mất việc. Hồi tưởng lại những ngày mà đại dịch Covid bùng phát, đời sống của chúng mình đã đẻ ra rất nhiều những thứ sợ hãi khác.
Ví dụ như con cái, cháu chắt sợ không dám đến thăm các ông bà, cha mẹ, sợ các ngài bị nhiễm Covid; các linh mục sợ bị Covid ghé thăm. Cho nên, khi dâng lễ, khi ngồi tòa giải tội, phải giữ khoảng cách xa nhau 2 m. Và khi đi sức dầu bệnh nhân, tôi còn nhớ lúc đó buộc phải đeo khẩu trang loại đặc biệt, giống y như mặt ngựa, nhìn chẳng giống ai cả.
I. Con người không thể loại trừ hoàn toàn sự sợ hãi
Liệu chúng ta có loại trừ được những sự sợ hãi ra khỏi cuộc sống này không? Câu trả lời là không. Bạn và tôi không thể loại trừ những sự sợ hãi ra khỏi cuộc đời của chúng mình được. Nhưng chúng ta có thể khống chế và có khả năng chiến thắng được những sự sợ hãi, với điều kiện bạn và tôi phải cố gắng làm ba việc này.
1. Ba việc cần làm để chiến thắng sự sợ hãi
Thứ nhất, gặp Chúa. Thứ hai, trò chuyện với Chúa. Và thứ ba, ăn uống với Chúa. Tại sao? Là bởi vì tôi thấy Kinh Thánh ghi lại rằng ông Phêrô, ông Gioan, các tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu đã chiến thắng được những nỗi sợ hãi sau khi họ đã gặp, đã trò chuyện và đã cùng ăn uống với Chúa. Thật đấy.
II. Kinh Thánh cho thấy các môn đệ đã chiến thắng sợ hãi nhờ ở với Chúa
1. Gặp Chúa: hai môn đệ Emmau được biến đổi
Bạn cứ mở Phúc Âm và sách Công vụ Tông đồ ra thì sẽ thấy. Sau khi gặp Chúa, hai môn đệ ở Emmau đã lập tức đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại căn phòng đóng kín. Họ không còn sợ hãi như trước nữa.
2. Trò chuyện với Chúa: các tông đồ được củng cố đức tin
Sau khi được trò chuyện và được nghe chính Chúa Kitô phục sinh dạy dỗ, các tông đồ đã không còn phải sợ nữa, nhưng mạnh dạn lên Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
3. Ăn uống với Chúa: các Tông đồ mạnh dạn làm chứng
Sau khi ăn uống với Chúa Kitô phục sinh, các tông đồ đã không còn sợ người Do Thái bắt bớ và giết họ nữa, nhưng mạnh dạn làm chứng cho sự phục sinh của Ngài:
“Chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng đất của người Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại.” (Cv 10,39-41)
III. Muốn chiến thắng sự sợ hãi, hãy đến với Chúa
Bạn có muốn khống chế và muốn chiến thắng những sự sợ hãi trong cuộc đời của bạn không? Nếu bạn muốn, thì xin hãy gặp Chúa, hãy trò chuyện với Chúa và hãy cùng ăn, cùng uống với Chúa như các môn đệ của Chúa khi xưa.
1. Gặp Chúa trong giờ chầu Thánh Thể và trong tòa giải tội
Hãy gặp Chúa trong giờ chầu Thánh Thể và trong tòa giải tội. Đến tham dự giờ chầu và đến tòa giải tội, bạn và tôi sẽ gặp Ngài ngay. Bởi Ngài ngự trong Bí tích Thánh Thể 24/7, và chính Ngài là Đấng hiện diện trong tòa giải tội nơi vị linh mục để tỏ lòng thương xót và tha thứ cho chúng mình.
2. Trò chuyện với Chúa qua việc cầu nguyện
Hãy trò chuyện với Chúa qua việc cầu nguyện. Khi bạn và tôi cầu nguyện với Chúa là khi đó chúng mình có Chúa ở với chúng mình. Vì chính Ngài đã hứa:
“Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” (Mt 18,20)
3. Ăn uống với Chúa qua việc tham dự Thánh lễ
Hãy cùng ăn, cùng uống với Chúa qua việc tham dự Thánh lễ. Trong Thánh lễ, bạn và tôi được cùng đồng bàn với Chúa. Và còn hơn thế nữa, chúng mình được ở với Ngài qua việc lãnh nhận Bí tích Thánh Thể.
IV. Khi có Chúa ở cùng, bóng tối sợ hãi sẽ tan biến
Tôi tin chắc rằng khi bạn và tôi siêng năng đến tham dự những giờ chầu, đi xưng tội, tham dự Thánh lễ, khi chúng mình cầu nguyện ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh, thì khi đó chính Chúa sẽ ở với chúng mình. Và khi có Chúa ở cùng với chúng mình rồi, thì những bóng đêm của sợ hãi sẽ tan biến ngay. Vì Chúa chính là ánh sáng và là ơn cứu độ của chúng ta.
Khi tâm hồn của tôi và bạn có ánh sáng Chúa Kitô ngự trị rồi, thì chắc chắn bóng tối của sợ hãi sẽ không còn có cơ hội tồn tại được nữa. Tôi xác tín như vậy.
Xin ánh sáng Chúa Kitô Phục Sinh ngự trị trong chúng ta.
Chúng ta cầu nguyện cho nhau, nguyện xin ánh sáng của Đức Giêsu Kitô phục sinh luôn ngự trị trong mỗi tâm hồn, trong mỗi gia đình và trong cộng đoàn giáo xứ của chúng mình.
Nhờ vậy, bạn và tôi sẽ sống vui vẻ, bình an, hạnh phúc, và nhất là mọi sự sợ hãi lớn nhỏ sẽ tan biến trong tâm hồn của chúng mình. Happy Easter. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
TỪ NHỮNG CHIẾC KHĂN LIỆM ĐƯỢC XẾP GỌN
Lịch sử nhân loại được chia làm hai nửa: trước khi và sau khi tảng đá lấp cửa mộ bị lăn ra. Biến cố Phục Sinh không chỉ là một sự kiện “đã qua”, mà là một thực tại đang tiếp diễn, xoay chuyển mọi trật tự của vũ trụ. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã khẳng định: “Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không phải là một sự kiện riêng lẻ mà chúng ta có thể gạt bỏ như một điều gì đó chỉ thuộc về quá khứ, nhưng nó cấu thành một “bước nhảy vọt mang tính tiến hóa” - một cách so sánh, mặc dù dễ bị hiểu sai. Trong sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, một khả năng mới đạt được sự hiện hữu của con người, ảnh hưởng đến tất cả mọi người và mở ra một tương lai mới cho nhân loại.” [1]
1. Bình minh của công trình tạo dựng mới.
Tin Mừng Gioan bắt đầu trình thuật bằng một chi tiết thời gian đầy ngụ ý: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Trong thần học của Thánh Gioan, bóng tối không chỉ là thời gian vật lý, mà là biểu tượng cho tình trạng của nhân loại trước khi Ánh Sáng Phục Sinh bừng lên. Bà Maria Mácđala đại diện cho nhân loại đang dò dẫm bước đi trong đêm tối thất vọng của cõi chết. Việc bà thấy “thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” gây nên một cú sốc tâm lý. Phản ứng của bà là phản ứng của một người vẫn còn bị giam hãm trong suy nghĩ trần thế: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 2). Bà chưa nghĩ đến sự phục sinh, bà chỉ nghĩ đến một vụ trộm mộ hoặc sự xúc phạm đến thi hài. Nhưng rồi chính Đấng Phục sinh đã gọi chính tên bà: “Chúa Giêsu gọi bà: Maria!” (Ga 20: 16).
Đức Phanxicô đã nói về Maria Mađalêna: “Nhiều lần người ta nhắc đến việc Maria Mácđala “quay lại”…Trong nước mắt, Maria Mácđala nhìn vào bên trong ngôi mộ trước, rồi quay lại: Đấng Phục Sinh không ở bên phía sự chết, mà ở bên phía sự sống. Người ta có thể nhầm Ngài với một trong những người chúng ta gặp mỗi ngày. Rồi, khi nghe thấy tên mình được gọi, Tin Mừng nói rằng Maria Mácđala lại “quay lại”. Và niềm hy vọng của Maria Mácđala lớn lên như vậy: giờ đây Maria Mácđala nhìn thấy ngôi mộ, nhưng không giống như trước nữa. Bà có thể lau khô nước mắt, vì Bà đã nghe thấy tên mình: chỉ có Thầy mới gọi tên Bà như vậy. Thế giới cũ dường như vẫn còn đó, nhưng nó đã không còn như cũ nữa” (Bài giáo lý, buổi tiếp kiến chung, thứ Bảy, 01/ 02/2025).
Đức Giáo Hoàng nêu ra một câu hỏi cho mọi người: “Khi chúng ta cảm nhận được Chúa Thánh Thần đang tác động trong lòng mình, và cảm nhận được Chúa đang gọi tên mình, liệu chúng ta có biết cách phân biệt giọng nói của Vị Thầy không?” (đdt).
2. Cuộc chạy đua đến niềm tin
Tại sao thánh sử Gioan lại nhắc đến việc mình đã đến mộ trước Phêrô ba lần? Dĩ nhiên thánh sử không hề có ý định hơn thua đố kỵ nhỏ nhen như đã từng có người nghĩ theo kiểu chủ quan duy cảm. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Giáo hội sơ khai có sự bất đồng dựa trên các truyền thống truyền miệng khác nhau? Một số người khẳng định rằng chính Gioan là người đầu tiên nhìn thấy thi hài Chúa Giêsu bị mất tích. Một số khác lại khẳng định rằng chính Phêrô mới là người đầu tiên nhìn thấy thi thể Chúa Giêsu bị mất tích? Trong trường hợp này, thánh sử Gioan đã xuất hiện và đưa ra lời giải thích cần thiết. Ai là người đầu tiên, Gioan hay Phêrô? Cả hai câu trả lời đều đúng. Gioan là người đến mộ trước. Nhưng Phêrô là người vào trong mộ trước. Sự phục sinh của Chúa Giêsu mới là trọng tâm tuyệt đối của đức tin, là điều cốt lõi của chính Tin Mừng, nếu thiếu điều đó thì mọi thứ đều sụp đổ.
Hơn thế nữa, việc “Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước” (Ga 20: 4) là một hình ảnh sống động về Giáo hội. Một bên là Phêrô, đại diện cho phẩm trật và quyền bính; một bên là “người môn đệ kia” (Ga 20: 3) đại diện cho tình yêu và chiêm niệm.
Hans Urs von Balthasar nhận xét rằng Phêrô đại diện cho chức vụ giáo hội, Giáo hoàng. Còn Gioan tượng trưng cho tình yêu thương trong giáo hội. Tình yêu, vì không bị gánh nặng bởi những lo toan của chức vụ, nên tiến bước nhanh hơn. “Tuy nhiên, Tình yêu thương nhường bước cho chức vụ khi nói đến việc kiểm tra ngôi mộ, và do đó Phêrô trở thành người đầu tiên nhìn thấy tấm vải che đầu Chúa Giêsu và xác nhận rằng không có sự trộm cắp nào xảy ra.” Rồi Tình yêu bước vào, “và ông đã thấy và tin.” Von Balthasar nói điều này cho thấy rằng “đức tin vào Chúa Giêsu Phục sinh được chứng minh là đúng đắn bất chấp mọi sự mơ hồ của hoàn cảnh.” [2]
3. Những dây băng nhỏ và chiếc khăn liệm che đầu
Bằng chứng của sự sống lại được Thánh Gioan mô tả rất kỹ: “Dây băng nhỏ để đó... khăn liệm che đầu…cuộn lại để riêng một chỗ” (Ga 20: 6-7). Đây là những chi tiết cực kỳ quan trọng để bác bỏ giả thuyết trộm xác. Một kẻ trộm xác sẽ không bao giờ mất thời gian để tháo băng vải và cuộn khăn liệm một cách ngăn nắp như vậy.
Thánh Gioan Kim Ngôn giải thích rằng: “Vì nếu có ai đó đã di dời thi thể, thì trước khi làm vậy họ cũng sẽ không cởi bỏ vải liệm; và nếu có ai đó đã đánh cắp thi thể, thì họ cũng sẽ không buồn tháo khăn che đầu ra, cuộn lại và đặt ở một nơi riêng biệt. Gioan đã báo trước cho chúng ta rằng thi thể được chôn cất với rất nhiều mộc dược, kết dính vải liệm vào thi thể chắc chắn không kém gì chì; Khi các bạn nghe nói rằng chiếc khăn che đầu được đặt riêng, các bạn sẽ không thể chấp nhận những người nói rằng Ngài đã bị đánh cắp. Vì một tên trộm sẽ không ngu ngốc đến mức bỏ nhiều công sức vào một việc không cần thiết…Việc đó không phải của một người đang rối loạn hoặc vội vàng, vốn không thể đặt một số ở nơi này, một số ở nơi khác, và cuộn chúng lại với nhau. Từ điều này, chúng ta tin vào sự Phục Sinh.” [3]
Gioan không thấy Chúa Phục Sinh ngay lúc đó bằng mắt trần, nhưng ông thấy “ý nghĩa” của ngôi mộ trống. “Ông thấy và ông tin” (Ga 20: 8). Đức tin bắt đầu từ việc nhận ra những dấu chỉ nhỏ bé nhất của quyền năng Thiên Chúa giữa những đổ nát của cuộc đời.
4. Căn tính mới của Kitô hữu: sống lại với Chúa Kitô
Nếu Phục Sinh chỉ là chuyện của Chúa Giêsu, thì đó là một phép lạ vĩ đại nhưng xa lạ, nhưng thánh Phaolô khẳng định: “Anh em đã sống lại với Chúa Kitô” (Cl 3: 1).
Ngài kêu gọi: “Anh em hãy tìm những sự trên trời”. Ưu tiên chọn lựa những sự trên trời không có nghĩa là chúng ta chối bỏ thế giới này hoặc sống thiếu trách nhiệm với trần thế. Thánh Ignatius Loyola nói: “Người nào mang Chúa trong lòng thì mang thiên đàng theo mình đến bất cứ nơi đâu”, hoặc như thầy Thomas Winninger nói: “Các vị thánh đã lên Thiên đàng trước khi họ thực sự lên Thiên đàng.” Mẹ Mary Angelica Truyền Tin, Người sáng lập Mạng Lưới Truyền Hình Ngôi Lời Vĩnh Cửu - EWTN, nói: “Bạn không thể lên Thiên đàng nếu vẫn còn lòng thù hận. Hãy tha thứ ngay bây giờ. Hãy thương xót ngay bây giờ. Hãy kiên nhẫn ngay bây giờ. Hãy biết ơn ngay bây giờ. Hãy yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria ngay bây giờ. Hãy chấp nhận ý muốn của Chúa ngay bây giờ.” [4]
“Những sự dưới đất” mà Phaolô cảnh báo chính là cái tôi ích kỷ, chỉ biết mình, và những đam mê xác thịt làm lu mờ phẩm giá con người. Kitô hữu sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Câu nói mang tính huyền nhiệm nhất của đoạn văn này là: “Sự sống anh em được ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa” (Cl 3: 3). Tại sao lại là “ẩn giấu”?
Thánh Gioan Thánh Giá đã viết: “Cần phải biết rằng Thiên Chúa ngự trong mọi linh hồn cách kín đáo và ẩn mình trong bản chất của các linh hồn, nếu không thì các linh hồn sẽ không tồn tại mãi mãi…Chính khi những ham muốn và khoái lạc của bản thân càng ít ngự trị trong linh hồn, thì linh hồn càng sống an tịnh hơn, và như thể đang ở trong chính ngôi nhà của mình, cai quản và điều khiển nó…Đấng Yêu Dấu sống kín đáo với một vòng tay ôm ấp càng gần gũi, thân mật và sâu thẳm hơn, khi linh hồn càng thuần khiết và tách biệt khỏi mọi thứ khác ngoại trừ Thiên Chúa” (Ngọn lửa tình yêu sống động, đoạn 4, số 14) [5]
Đây là nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang đau khổ, thất bại hoặc bị thế gian khinh miệt. Giá trị thực sự của người môn đệ Chúa Kitô không nằm ở những gì người khác thấy, mà ở việc họ được “ẩn giấu” trong cung lòng Thiên Chúa.
5. Sứ vụ của chứng nhân
Trình thuật sách Công vụ Tông đồ cho thấy Sứ mạng công bố Tin Mừng Phục Sinh. Thánh Phêrô, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Thánh nhân không còn sợ hãi, nhưng dõng dạc tuyên bố: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm…Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10:34-43).
Chi tiết “Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10:41) là một lời khẳng định mạnh mẽ chống lại mọi thuyết ngộ đạo - gnosticism cho rằng Chúa Giêsu chỉ hiện ra như một bóng ma. Ăn uống là hành động của một cơ thể sống, thực tế và hữu hình.
Đức Phanxicô đã nhấn mạnh: “Chứng tá của các Tông đồ không dựa trên một ý tưởng hay một hệ tư tưởng, mà dựa trên một cuộc gặp gỡ. Họ đã chạm vào Ngài, đã ăn cùng Ngài. Phục Sinh là một sự kiện thể lý mang tính cách mạng tâm linh” (Sứ điệp Phục sinh, 2021).
Phêrô kết thúc bài giảng bằng một lời hứa: “Phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10: 43). Chiến thắng cái chết của Chúa Giêsu đồng thời là chiến thắng tội lỗi. Cái chết là lương bổng của tội lỗi; khi cái chết bị đánh bại, quyền lực của tội lỗi cũng bị bẻ gãy.
Chúng ta hôm nay cần sống mầu nhiệm Vượt Qua giữa đời thường, không sợ bóng tối của “ngày đầu tuần”. Mỗi chúng ta đều có những lúc “trời còn tối” trong cuộc đời: bệnh tật, sự phản bội, sự mất mát người thân. Maria Mađalêna đã dạy chúng ta rằng: ngay cả khi cảm thấy Chúa bị mất đi, hãy cứ tiếp tục tìm kiếm. Chính nơi bóng tối của ngôi mộ, chúng ta sẽ thấy tảng đá đã được lăn ra.
Chúng ta hãy lăn tảng đá của sự thờ ơ. Nhiều khi chúng ta tự nhốt mình trong những ngôi mộ của sự ích kỷ, sự oán giận. Lễ Phục Sinh là lời mời gọi: hãy lăn tảng đá đó đi! Đừng để khăn liệm và dây băng của quá khứ trói buộc chúng ta thêm nữa. Chúa đã phục sinh để chúng ta được tự do.
Chúng ta hãy sống niềm hy vọng phục sinh. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Người có hy vọng thì sống khác; người có hy vọng đã được ban tặng một cuộc sống mới” (Thông điệp Spe Salvi, số 2). Sự phục sinh không phải là một sự an ủi hão huyền về thế giới bên kia, nhưng là sức mạnh để chúng ta đương đầu với thế giới này. Vì chúng ta biết rằng, dù “thân xác có phải chết”, thì Thần Khí đang ngự trong chúng ta sẽ làm cho nó được sống lại (Rm 8:11).
Lễ Phục Sinh không kết thúc ở ngôi mộ trống, nhưng bắt đầu từ chính ngôi mộ đó, trong trái tim của Gioan khi ông “thấy và tin”. Lễ Phục Sinh bắt đầu nơi miệng lưỡi của thánh Phêrô khi ngài rao giảng tại nhà ông Cornêliô. Và lễ Phục Sinh phải bắt đầu trong cuộc đời chúng ta hôm nay, như ĐGH Phanxicô khẳng định: “Đấng chịu đóng đinh trên thập tự giá đã sống lại! Mọi câu hỏi và sự không chắc chắn, sự do dự và nỗi sợ hãi đều tan biến bởi sự mặc khải này. Đấng Phục Sinh ban cho chúng ta sự chắc chắn rằng điều thiện luôn chiến thắng điều ác, sự sống luôn chiến thắng cái chết, và mục đích của chúng ta không phải là ngày càng sa sút, từ đau khổ này đến đau khổ khác, mà là vươn lên cao” (Suy tư Tam Nhật Thánh, 31 tháng 3 năm 2021).
Ước gì niềm vui Phục Sinh biến đổi chúng ta từ những người bị đè nặng bởi những nỗi sợ hãi, đau khổ, điều ác và cái chết u sầu thành những sứ giả của ánh sáng đem lại sự sống đời đời, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có thể hô vang: “Alleluia! Chúa đã sống lại thật rồi!” mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] https://www.spesalviinstitute.com
[2] https://catholicreview.org
[3] https://www.lectionarycentral.com
[4] https://catholicquotations.com
[5] https://www.jesus-passion.com
ÁNH SÁNG BỪNG LÊN TRONG ĐÊM TỐI
Đêm Vọng Phục Sinh là đêm hồng phúc, đêm nối kết trời đất, phối hợp Thiên Chúa với muôn người thế chúng tôi. Đêm Hội Thánh canh thức đợi chờ và cử hành biến cố vĩ đại nhất: Đức Ki-tô đã sống lại. Tất cả những gì chúng ta cử hành trong đêm nay không chỉ là nghi thức, nhưng là một hành trình đức tin: từ bóng tối đến ánh sáng, từ sự chết đến sự sống, từ tội lỗi đến ân sủng.
Từ bóng tối đến ánh sáng, lửa mới và ánh sáng Đức Ki-tô
Trước khi cử hành nghi thức Đêm Vọng Phục sinh. Phụng vụ bắt đầu trong bóng tối. Mọi người chìm trong tĩnh mịch của đêm đen, không ánh đèn, tất cả cộng đoàn phụng vụ cùng hướng về phía cha chủ tế: với đống lửa đang cháy sáng, diễn tả tình trạng của thế giới khi chưa có Thiên Chúa: một thế giới của tội lỗi, của sự chết và tuyệt vọng. Nhưng chính trong đêm tối ấy, lửa mới được thắp lên.
Lửa mới tượng trưng cho Đức Ki-tô phục sinh đang ở giữa chúng ta, ánh sáng không bao tàn lụi. Khi linh mục làm phép lửa và thắp Nến Phục Sinh, chúng ta thấy một chân lý sâu xa: ánh sáng không đến từ con người, nhưng là ân ban từ Thiên Chúa.
Liền sau đó, Nến Phục Sinh được rước vào nhà thờ, vị chủ sự hô vang ba lần: “Ánh sáng Chúa Ki-tô!” Cộng đoàn đáp: “Tạ ơn Chúa!” Ánh sáng ấy dần dần lan tỏa đến mỗi người cầm nến sáng trên tay. Đây là hình ảnh sống động của Hội Thánh: mỗi Ki-tô hữu nhận ánh sáng từ Đức Ki-tô và mang ánh sáng ấy vào thế gian.
Nến Phục Sinh được đặt trang trong lên giá. Trên thân Nến có các mẫu tự Hy Lạp: Alpha và Omega (có nghĩa là “chữ đầu” và “chữ cuối” trong bảng mẫu tự Hy Lạp), tượng trưng cho Chúa Ki-tô là đầu và là cuối (là nguyên thủy và cùng đích) của tất cả mọi tạo vật. Nến cũng được đánh dấu theo năm, năm nay là năm 2026. Chủ tế xông hương Nến Phục Sinh cho thấy sự tôn kính đặc biệt: Đức Ki-tô thực sự hiện diện như ánh sáng dẫn đường cho nhân loại. Nến ấy sẽ cháy trong suốt mùa Phục Sinh, nhắc chúng ta rằng Chúa đang sống và đang ở giữa chúng ta.
Tin Mừng được công bố
Sau nghi thức làm phép Lửa mới và thánh sáng Nến Phục Sinh, Hội Thánh long trọng công bố Tin Mừng Phục Sinh qua bài ca Exsultet: “Mừng vui lên hỡi muôn lớp cơ binh thiên thần trên trời. Cùng vui lên, hỡi những thừa tác viên này… Và vui lên, toàn trái đất vui lên … tất cả vũ trụ đều hân hoan… Cùng vui lên, ôi Mẹ Hội Thánh vui lên…khắp nơi trong cung điện này hòa vang lên ngàn muôn tiếng ca reo mừng của nhân trần”(x.Exsultet). Cả Trời Đất mừng vui. Mừng vui lên! Hỡi anh chị em!!! Chúa đã sống lại thật rồi. Alleluia.
40 ngày Chay Thánh qua đi, nay Giáo hội bước vào 50 ngày Mùa Phục sinh và kêu gọi con cái mình Mừng vui lên. Này người trần hỡi hãy vui lên, Al-lê-lui-a! Vì “Chúa đã sống lại thật rồi đem niềm vui cho thế giới. Chúa đã sống lại rồi, vinh quang tỏa lan khắp nơi. Chúa đã sống lại rồi, cho muôn người hưởng phúc quê Trời”. (Trích bài hát “Mừng Chúa Phục sinh” – Tuấn Kim).
Tiếp đến là Phụng vụ Lời Chúa với nhiều bài đọc, thuật lại toàn bộ lịch sử cứu độ: từ công trình sáng tạo, cuộc vượt qua Biển Đỏ, cho đến lời các ngôn sứ. Tất cả đều hướng về một điểm: Thiên Chúa luôn trung thành và dẫn dắt dân Người. Đỉnh cao là Tin Mừng Phục Sinh: ngôi mộ trống, lời loan báo “Người đã sống lại.” Đây không chỉ là một sự kiện trong quá khứ, nhưng là thực tại đang biến đổi thế giới hôm nay. Lời Chúa đêm nay giúp chúng ta hiểu rằng: lịch sử nhân loại không bị bỏ rơi, nhưng được Thiên Chúa hướng dẫn. Và mỗi người chúng ta cũng có một lịch sử cứu độ riêng, nơi Thiên Chúa vẫn đang hoạt động.
Phụng Vụ Thanh Tẩy
Sau khi lắng nghe Lời Chúa, phụng vụ bước sang phần làm phép nước. Nước được làm phép trong đêm nay mang ý nghĩa đặc biệt: Nước của sự sống mới.
Nước ấy gợi lại nước trong công trình sáng tạo, nước Biển Đỏ giải thoát dân Ít-ra-en, và nhất là nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Ki-tô trên thập giá. Đó là nguồn ơn cứu độ.
Đêm nay, đêm mang lại niềm vui đặc biệt cho các anh chị em dự tòng vừa được lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Họ được dìm mình vào nước để chết cho tội lỗi và sống lại với Đức Ki-tô. Họ được rửa bằng Nước mới, xứ Dầu Thánh mới, thắp Lửa mới, tất cả đều nói lên một sự khởi đầu mới.
Mỗi chúng ta chan chứa một niềm vui vì tình thương Chúa ngập tràn được mời gọi lặp lại lời hứa khi chịu phép Rửa tội: từ bỏ ma quỷ, tin vào Thiên Chúa. Đây không phải là một nghi thức hình thức, nhưng là lời cam kết sống đức tin cách ý thức và trưởng thành hơn.
Khi được rảy Nước Thánh trên mình, chúng ta được nhắc nhớ rằng mình đã được thanh tẩy, đã thuộc về Đức Ki-tô, và được mời gọi sống như con cái ánh sáng.
Thánh Thể, hiệp thông với Đấng Phục Sinh
Đỉnh cao của Đêm Vọng Phục Sinh là Bí tích Thánh Thể. Đây là lần đầu tiên sau những ngày tưởng niệm cuộc Thương Khó, Hội Thánh lại cử hành Thánh Lễ cách long trọng. Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Đêm nay, chúng ta không chỉ tưởng nhớ Đức Ki-tô, nhưng thực sự gặp gỡ Đấng đã sống lại. Ngài hiện diện, nuôi dưỡng và biến đổi chúng ta.
Bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa, Đấng đã chết và nay đang sống. Khi rước lễ, chúng ta hiệp thông với sự sống mới ấy, để chính chúng ta cũng được biến đổi.
Thánh Thể là bảo chứng cho niềm hy vọng: nếu chúng ta hiệp thông với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ được sống lại với Ngài.
Quả thật, Đêm Vọng Phục Sinh là hành trình của ánh sáng, của Lời Chúa, của nước tái sinh và của Thánh Thể. Tất cả dẫn chúng ta đến một chân lý: Đức Ki-tô đã sống lại, và Ngài đang sống giữa chúng ta. Ước gì ánh sáng của Nến Phục Sinh không chỉ cháy trong nhà thờ, nhưng còn cháy trong tâm hồn mỗi người, để mỗi chúng ta trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng, mang ánh sáng Phục Sinh vào gia đình và xã hội.
Xin Chúa Ki-tô Phục Sinh ban cho chúng ta một đời sống mới: sống trong ánh sáng, sống trong niềm tin, và sống trong tình yêu. Vậy chúng ta có thể cao vang: “Vui lên Đất Trời. Allelui! Vui lên muôn dân. Alleluia! Vì Chúa đã thật phục sinh, vì Chúa sống lại hiển vinh”. Amen. mục lục
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Niềm vui Phục Sinh và một truyền thống rất ý nghĩa
Các tín hữu thuộc Giáo Hội Công Giáo Đông Phương có một thói quen rất ý nghĩa như sau: sau khi tham dự Thánh lễ mừng Chúa Phục Sinh, họ trao cho nhau món quà đã được làm phép, thường là quả trứng. Sau đó, họ chúc mừng nhau bằng cách đập vỡ trái trứng, biểu tượng của sự sống, rồi cùng cất tiếng ngợi khen: “Alleluia - Alleluia, Chúa Kitô đã sống lại thật.”
Có lẽ, ngày nay, thói quen tặng trứng Phục Sinh được phát xuất từ truyền thống này.
Nói chung, ai trong chúng ta cũng mong niềm vui và hạnh phúc mà Đức Kitô đã đem đến trong ngày Người Phục Sinh hiện diện trong cuộc sống của chúng mình.
Nhưng thực tế có được như vậy không? Sau đây là một kinh nghiệm:
I. Niềm vui Phục Sinh không thể bị áp đặt
1. Một kinh nghiệm rất đời thường
Có ông chồng kia, sau khi tham dự Lễ Vọng Phục Sinh, hân hoan chạy đến để chia sẻ niềm vui với bà: “Em ơi, Chúa sống lại thật rồi! Hãy vui lên!”
Người phụ nữ Việt Nam e dè, kín đáo, tế nhị, cho nên thường mau mắn nhận hơn là cho đi. Không thấy vợ trả lời, ông đến tủ lạnh cầm chai bia rồi tự mình mừng lễ; sau đó bèn phán: “Bà ơi! Có gì dọn ra cho tôi mừng lễ. Sao mà bếp núc nhà mình hôm nay lạnh và nguội thế này?”
Bà nhà mình đang bận rộn trong phòng, chưa kịp mừng lễ, chồng mình đã nghe thấy lịnh truyền, bèn tiu nghỉu rồi nghĩ thầm: “Lại cái cảnh chồng chúa vợ tôi”, và không muốn bước ra nữa.
Bác trai của chúng mình lại được phép phát lịnh tiếp; và như anh chị em tưởng tượng thì biết rằng cường độ của những lịnh truyền sau không còn ngọt ngào nữa. Thế là niềm vui Phục Sinh, cho dù phát sinh bằng cảm xúc, cũng biến mất.
2. Niềm vui là cảm nghiệm sống, không thể ép buộc
Niềm vui của ngày lễ là những cảm nghiệm sống của mỗi người. Không ai có thể trao ban và áp đặt trên người khác điều họ không có hay là chưa có.
Làm sao tôi có thể nói với vợ chồng anh bạn: “Hãy vui lên vì Chúa đã sống lại thật”, trong khi họ đang phải đối diện với sự ra đi quá đột ngột của người con duy nhất mới chết vì tai nạn giao thông; cảnh vợ mất chồng hay con cái mất cha mẹ! Cuộc sống hiện tại của họ là những ngày buồn thảm của đồi Can-vê!
Với họ, niềm vui Phục Sinh dường như quá xa vời. Họ có thể tự hỏi: Chúa sống lại thật rồi, nhưng người con trai duy nhất của chúng tôi hay người tôi yêu dấu thì vẫn không trở về… vậy niềm vui đó ở đâu?
II. Tin Mừng Phục Sinh bắt đầu bằng nước mắt
1. Maria Mađalêna: từ đau thương đến gặp Đấng Phục Sinh
Tin Mừng Phục Sinh không bắt đầu bằng niềm vui, mà bắt đầu bằng nước mắt. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna ra mộ Chúa. Bà đi trong tâm trạng đau buồn. Bà ra thăm mộ vì nhớ thương, vì trái tim tan vỡ.
Bà muốn diễn tả tâm tình nhớ thương bằng việc mang theo dầu thơm để ướp xác Chúa. Và khi thấy mộ trống, bà càng hoang mang hơn. Bà nghĩ người ta đã lấy xác Chúa. Bà đứng đó nhìn vào trong mộ, ngây người ra và khóc.
Chính trong lúc bà khóc, Chúa Giêsu Phục Sinh đã đến. Nhưng bà không nhận ra Người. Chúa đứng đó, rất gần, nhưng bà tưởng là người làm vườn, cho đến khi Chúa lên tiếng gọi: “Maria!”, bà mới bừng tỉnh, quay lại và thưa: “Lạy Thầy!”
2. Nỗi đau làm chúng ta khó nhận ra Chúa
Anh chị em thân mến,
Câu chuyện đó rất gần với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Có những lúc chúng ta đau khổ, mất mát, và giống như Maria. Cho dù Chúa đang ở rất gần, nhưng chúng ta chỉ dán mắt nhìn vào nỗi tang thương của chính mình, cho nên vẫn không nhận ra Người.
Đặc biệt với một người vợ vừa mất chồng, con cái mất cha mẹ. Nỗi đau mà họ đang gánh chịu quá tang thương như màn đêm ập xuống, khiến họ không nhìn thấy gì nữa.
Không ai có thể phủ nhận hay xóa đi nỗi đau thương ấy. Và chúng ta cũng không bao giờ khuyên họ đừng khóc nữa, hãy vui lên vì Chúa đã sống lại. Chính Chúa Giêsu cũng đã khóc trước cái chết của Ladarô. Người không vô cảm trước nỗi đau của con người. Người sống lại khi mang đầy thương tích để an ủi và ban bình an cho họ.
III. Phục Sinh không xóa đau khổ, nhưng mở ra niềm hy vọng
1. Chỉ khi đi qua sự chết, con người mới hiểu Phục Sinh
Tuy nhiên, khi suy nghĩ đến hoàn cảnh của họ, tôi chợt nhớ lại và nhận ra rằng: nếu không tiến vào sự chết thì làm thế nào biết sống lại là gì! Nếu không cảm nhận được niềm vui của Chúa Phục Sinh thì những lời chúc cho nhau mãi mãi chỉ là lời cầu chúc suông; chưa dám nói đến hai chữ “sáo ngữ”.
2. Phục Sinh nghĩa là sự chết không phải tiếng nói cuối cùng
Thật ra, Phục Sinh không có nghĩa là quyền năng sống lại của Chúa Phục Sinh sẽ đem người đã mất quay trở lại cuộc sống như trước. Nhưng Phục Sinh có nghĩa là sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng.
Những người đã ra đi không biến mất trong hư vô. Tình yêu giữa họ và chúng ta sẽ không bị xóa bỏ. Trong Chúa Kitô, tình yêu đó được gìn giữ, được thanh luyện, và một ngày kia sẽ được gặp lại trong vinh quang.
Đó là niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng niềm hy vọng này không đến ngay lập tức. Nó lớn lên từ từ và cần được vun trồng theo thời gian trong sự tín trung vào sự quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa.
IV. Thân Thể Chúa Phục Sinh là nguồn hy vọng
1. Kinh nghiệm mục vụ nơi các viện dưỡng lão
Trong những lần đi thăm viếng và rước Mình Thánh Chúa cho các người già cả, đau ốm trong các viện dưỡng lão, tôi nhận ra một điểm là dù tình trạng sức khỏe của họ như thế nào: bị lãng trí; bị tê liệt hay mất khả năng giao tiếp vì hậu quả của các cơn stroke… nhưng khi chúng tôi tôn vinh Mình Thánh Chúa để mời họ đón nhận thì hầu hết mắt của họ sáng ngời niềm tin.
Điều này giúp cho chúng tôi biết rằng Thân Thể Chúa Phục Sinh chính là nguồn hy vọng của họ.
2. Hết sợ chết nhờ niềm tin vào sự sống lại
Rồi có những cụ, trước đây rất sợ chết, nay hoàn toàn đổi khác. Họ hướng về tương lai – tương lai gì trong hoàn cảnh sống của họ; phải chăng chỉ là một nấm mồ – bằng niềm hy vọng. Họ hết sợ rồi, sẵn sàng và hân hoan ra đi. Phục Sinh là ở đó.
Cụ thể, tôi biết hai cụ kia sống và quen nhau trong viện dưỡng lão. Thấy sự liên kết và gắn bó của họ, chúng tôi mới tự hỏi nhau rằng không biết cuộc sống còn lại của họ sẽ ra sao sau khi một trong hai người bị cất đi.
Không ngờ, đó cũng là điều trăn trở của họ trước đây… Nhưng mới gần đây, họ đã thay đổi và xác tín rằng ai đi trước cũng không sao, vì họ biết rằng người đi trước sẽ chờ người đến sau. Họ sẽ gặp lại nhau. Niềm tin vào sự sống lại giúp họ đạt được niềm xác tín như thế.
V. Phục Sinh phải chạm đến chính đời sống của tôi
1. Tự vấn trong các cử hành Tuần Thánh và Phục Sinh
Bản thân tôi, mỗi khi cử hành hay tham dự các nghi thức phụng vụ trong Tuần Thánh và Phục Sinh, tôi tự hỏi mình rằng các biến cố đó đã ảnh hưởng, tác động và làm cho cuộc sống tôi thay đổi ra sao?
2. Nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân, nhưng không mất hy vọng
Tạ ơn Chúa, vì tôi vẫn chưa có những thay đổi nào đáng kể; vẫn còn bị bám víu bởi các đam mê; vẫn còn cảm thấy thích thú khi được trao quyền (chẳng biết để phục vụ hay chỉ huy – miễn có quyền là thích rồi); vẫn bực tức khi ý định của mình không được đón nhận; vẫn còn muốn làm tôi sự tội và còn bao nhiêu lầm lỗi phát sinh từ sự mỏng giòn của thân phận làm người; vẫn còn đủ mọi thứ tham!
Tuy nhiên, tôi không mất hy vọng và vẫn hiên ngang tiến về phía trước với niềm cậy trông vững vàng là cho dù cuộc sống của tôi sẽ tiếp tục như thế hay tệ hơn thế nữa thì Chúa vẫn thương yêu tôi.
VI. Phục Sinh là sự sống, niềm vui và hy vọng
Sau cùng, tôi xác tín rằng Chúa đã đến để chúng ta có sự sống và được sống dồi dào. Người đã thắp lên trong cõi lòng chúng ta niềm vui mừng và hy vọng, bởi vì thập giá của Người là nguồn ơn cứu độ và cách sống của Người là con đường dẫn tới phục sinh.
Hãy hân hoan bước theo Người và hãy vui mừng được thuộc về Người. Chính trong tâm tình đó mà tôi xin cầu chúc cho anh chị em, mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn một lễ Phục Sinh đầy vui mừng và hy vọng.
Sống lại là đổi mới, là vui tươi, là hy vọng…
Vì vậy, chúng mình hãy vui lên! Vì Chúa đã sống lại trong bản thân và lối sống của mình rồi - Alleluia, Alleluia. mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.