SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH – Năm A

19-04-2026 499 lượt xem

Lời Chúa: Cv 2,14.22-33; 1 Pr 1,17-21; Lc 24,13-35

Mục Lục

MẮT HỌ MỞ RA – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

SỰ THẬT LÀM "BẬT NGỬA"… VÀ THIÊN CHÚA KHÔNG ĐÁNH NGà– Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TỪ THẤT VỌNG VÀ SỢ HÃI ĐẾN VUI MỪNG HY VỌNG – Phêrô Phạm Văn Trung

NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH TRONG LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TỪ BỐI RỐI ĐẾN HY VỌNG  VÀ TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN – Jos. Vinc. Ngọc Biển

TẠI SAO CÁC MÔN ĐỆ KHÔNG NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH? – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

EMMAUS: ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

MẮT HỌ MỞ RA

I. TRÌNH THUẬT EM-MAU VÀ HÀNH TRÌNH MỞ MẮT ĐỨC TIN

Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất thuật lại câu chuyện trên đường Em-mau. Đấng Phục Sinh như một người khách lạ, vô tình gặp hai môn đệ trên đường trở về quê cũ. Tâm trạng hai ông lúc này là thất vọng và buồn chán. Khi gặp người khách lạ, hai ông như có dịp trút bầu tâm sự đang làm tâm hồn họ nặng trĩu.

Tác giả đã khéo léo tạo dựng nhân vật trong trình thuật, để đưa độc giả, cũng giống như hai môn đệ năm xưa, hết đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cuối cùng, như hai môn đệ ngỡ ngàng “mở mắt ra”, độc giả là chúng ta hôm nay cũng được “mở mắt” để gặp gỡ Đấng Phục Sinh, Đấng đang bẻ bánh nuôi sống nhân loại.

II. HIỂU BIẾT BỀ NGOÀI VÀ SỰ CHẬM TIN NỘI TÂM

Khi mở đầu câu chuyện, hai môn đệ tỏ ra rất thông tin và thạo tin. Hai ông hào hứng nói về tình hình thời sự và có vẻ như coi thường vị khách lạ: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”.

Câu nói này cho thấy vụ việc Chúa Giê-su là một biến cố lớn làm rung động Thành Thánh. Không chỉ là những người thạo tin, hai ông còn tỏ ra là những người hiểu biết rõ vị ngôn sứ thành Na-da-rét: “Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”.

Rồi sau đó, hai ông giãi bày tâm trạng của mình: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en”. Khi nói “trước đây”, có nghĩa hiện tại hai ông không còn hy vọng nữa. Nói cách khác, niềm hy vọng mà các ông đặt để nơi vị ngôn sứ ấy giờ đây đã bị dập tắt, trở thành ảo vọng, thậm chí là thất vọng.

Hai ông cũng tỏ cho thấy mình không phải là người không hiểu biết gì, bởi lẽ: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mồ từ sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy”.

Qua những lời tâm sự, thực ra hai ông đang thú nhận sự kém cỏi và chậm tin của mình. Cũng như các môn đệ khác, chắc chắn trước đó hai ông đã nghe Thầy mình tiên báo về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người. Vậy mà bây giờ, với khá nhiều bằng chứng hiển nhiên về sự phục sinh của Thầy mình, họ vẫn không tin.

Nếu hai ông hồ hởi khoe khoang sự hiểu biết của mình, thì Chúa Giê-su lại chê họ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”

III. LỜI CHÚA MỞ TRÍ – THÁNH THỂ MỞ MẮT

Suy nghĩ của hai môn đệ cũng giống như suy nghĩ của nhiều người trong chúng ta. Là Ki-tô hữu, chúng ta vẫn nghe Giáo Hội nói về sự phục sinh của Chúa Giê-su; hằng năm chúng ta vẫn nghe trình thuật về việc ông Tô-ma thách thức Chúa và sau đó được gặp Người; chúng ta cũng vẫn nghe câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau, nhưng chúng ta vẫn không được thấy Chúa và cuộc đời của chúng ta vẫn không có gì thay đổi.

Đối với nhiều tín hữu, đức tin vào Chúa chỉ đơn thuần giống như một thói quen văn hóa. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta: cần phải mở con mắt tâm hồn để thực sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh đang hiện diện và đang ngỏ lời với chúng ta, để rồi sự phục sinh của Chúa là động lực soi sáng và thúc đẩy hành vi, ngôn từ của chúng ta.

Tại bàn ăn, khi thấy người khách lạ làm những cử chỉ rất quen thuộc là “cầm bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ”, mắt các ông mở ra và nhận ra Thầy mình.

Đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa sẽ giúp chúng ta lấy lại nghị lực siêu nhiên và niềm vui trong tâm hồn cũng như trong cuộc đời. Trên đường về Em-mau, lòng các ông nặng trĩu. Khi quay ngược trở lại Giê-ru-sa-lem, các ông phấn chấn và mạnh mẽ. Lòng các ông đã bừng cháy từ khi nghe người khách lạ giải thích Kinh Thánh.

IV. LỜI CHỨNG TÔNG ĐỒ VÀ ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Lời Chúa trong mùa Phục Sinh nhấn mạnh đến lời chứng của thánh Phê-rô và các Tông đồ. Bài đọc I cho chúng ta nghe một phần bài giảng của thánh Phê-rô trong ngày lễ Ngũ Tuần. Dân chúng hành hương hết sức ngạc nhiên, thấy thánh Phê-rô và nhóm Mười Một, vốn là những người ít học, mà bỗng nhiên trở nên khôn ngoan uyên bác đến lạ kỳ.

Thánh Phê-rô trích dẫn Cựu Ước, với những nhân vật và sự kiện quá quen thuộc với người Do Thái, để từng bước chứng minh Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Người đã bị giết chết và đã sống lại. Các Tông đồ rao giảng hăng say, đến nỗi một số người cực đoan có mặt cho rằng các ông bị say rượu (x. Cv 2,13).

V. LỜI NGUYỆN KẾT

Xin Chúa Giê-su Phục Sinh mở mắt để chúng ta gặp Người ngay trong cuộc sống này, dẫu rằng vẫn còn đó những gian nan thử thách. Thánh Phao-lô khuyên chúng ta: khi tuyên xưng vào sự sống lại của Chúa Giê-su, chúng ta đặt để niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy chuyên tâm sống tốt cuộc đời lữ khách này (Bài đọc II).

Chúa Phục Sinh đang hiện diện và đồng hành với chúng ta. Người đang bẻ bánh cho chúng ta mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa mở mắt để chúng ta thấy Người. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

SỰ THẬT LÀM "BẬT NGỬA"…  VÀ THIÊN CHÚA KHÔNG ĐÁNH NGà

Chúng ta đang bàn về bối cảnh của bài đọc I, trích sách Công vụ Tông đồ. Khi thánh Phêrô và các Tông đồ rao giảng về Chúa Giêsu, Đấng vừa bị "anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi" (bài đọc I), là thời gian ngay sau hai đại lễ liền kề: Vượt qua và Ngũ tuần. 

Vì thế, Giêrusalem đang "sôi lên" vì lượng người tràn ngập. Những người hành hương này đến từ Nam chí Bắc trong nước. Có cả những ngoại kiều nhân dịp về dự lễ, họ cũng sẽ thăm quê hương.

Trước đây, họ đã từng được nghe về Chúa Giêsu. Biết đâu trong số này, có cả những người đã từng nhìn thấy Chúa Giêsu trên đường quê của họ khi Ngài đi rao giảng và chữa lành qua khắp phố phường.

Rồi… bỗng dưng... như một cú đánh vào lòng người. Bất thình lình họ bàng hoàng nghe tin: "Ông Giêsu đã bị xử tử". Lý do ông phải chết chủ yếu được loan đi qua giới lãnh đạo tôn giáo: Ông là kẻ "làm loạn". Một "tiên tri giả". Một tay "chống hoàng đế". Và hơn thế, một kẻ "chống Thiên Chúa", kẻ "phạm thượng", kẻ "ngông cuồng đòi phá Đền thờ"... Ông ta đáng phải loại trừ.

Nhưng bây giờ, họ lại được nghe từ chính các Tông đồ, những người đã sống với Chúa Giêsu mỗi ngày. Và điều họ nghe thì hoàn toàn khác: Chúa Giêsu không phải một kẻ phá hoại, nhưng là Đấng được Thiên Chúa chứng thực. Không phải một tội nhân, nhưng là Đấng Thánh, Đấng Công Chính.

Thánh Phêrô và các Tông đồ không úp mở. Không né tránh. Không nói cho vừa tai. Nhưng nói một sự thật làm chấn động cả tâm trí lẫn lương tâm: "Chính anh em đã đóng đinh Ngài… nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại". Lời rao giảng "chát chúa" này đủ để đảo lộn mọi cách hiểu trước đây.

Và sự thật hoàn toàn trái ngược ấy đủ làm "bật ngửa" cả một đám đông. Không phải chỉ ngạc nhiên, mà là một cơn rúng động nội tâm: "Ai nói thật?". "Có phải chúng ta đã bị lừa dối hay dẫn dắt sai?"... 

Tất cả khiến họ phải thay đổi toàn bộ cái nhìn về Thiên Chúa, về lịch sử, và cả về chính mình. Không "bật ngửa" sao được…

I. NHƯNG ĐIỀU KỲ LẠ: SỰ THẬT ẤY KHÔNG ĐẾN ĐỂ KẾT ÁN.

Nếu là con người, có lẽ chúng ta sẽ nói: "Các anh đã giết Ngài. Giờ phải trả giá!". "Các anh sai rồi. Giờ phải chịu hậu quả!". Nhưng Thiên Chúa thì không. Ngay trong lời giảng của thánh Phêrô, sau khi vạch ra sự thật đau đớn: "Chính anh em đã đóng đinh Ngài...", cánh cửa vẫn mở.

Lời thật ấy không phải là bản án, mà là lời mời gọi hoán cải. Không phải là trừng phạt, mà là cơ hội bắt đầu lại. Thiên Chúa không dùng sự thật để đè bẹp con người. Thiên Chúa dùng sự thật để đánh thức con người.

II. EMMAUS: MỘT KHUÔN MẪU CỦA THIÊN CHÚA.

Hai môn đệ trên đường Emmaus cũng đang "sai": Họ hiểu sai về Đấng Mêsia. Họ thất vọng. Họ bỏ cuộc. Họ quay lưng với cộng đoàn.

Nếu Chúa muốn "sửa sai" bằng quyền lực, chỉ cần hiện ra trong vinh quang là đủ. Nhưng không. Chúa đến như một người đồng hành. Chúa hỏi han. Chúa lắng nghe. Chúa kiên nhẫn giải thích. Chúa không hề áp đặt. Không trách móc. Không làm họ xấu hổ.

Thế là từng chút một: Lời Chúa làm lòng họ bừng cháy. Tấm bánh bẻ ra mở mắt họ. Họ nhận ra Chúa. Nhận ra không vì bị ép buộc, mà vì được dẫn dắt.

III. THIÊN CHÚA CỦA CHÚNG TA: CÓ THỂ TRỪNG PHẠT, NHƯNG CHỌN YÊU THƯƠNG.

Đây là điều làm nên vẻ đẹp và cũng là "cú sốc" lớn nhất của Tin Mừng: Chúng ta có một Thiên Chúa không hành xử theo kiểu con người. Chúa có quyền trừng phạt, lại chọn tha thứ. Chúa có thể kết án, lại chọn cứu độ. Chúa có thể vạch tội để loại trừ. Nhưng Chúa làm ngược lai: vạch tội để cứu chữa.

Vì thế, có thể nói một cách rất mạnh mẽ: Không có thác ghềnh nào có thể ngăn dòng chảy yêu thương của Thiên Chúa. Tội lỗi không ngăn được. Sự hiểu lầm không ngăn được. Sự cứng lòng không ngăn được. Ngay cả cái chết cũng không ngăn được.

Dòng chảy ấy đi qua Thập Giá, bừng lên trong Phục Sinh và vẫn tiếp tục chảy trong đời mỗi người chúng ta hôm nay. 

IV. NHƯNG VẤN ĐỀ KHÔNG NẰM Ở THIÊN CHÚA… MÀ Ở CON NGƯỜI. Có hai con đường rất rõ trong Phụng vụ hôm nay:

1. Con đường của hai môn đệ Emmau:

Sai. Nhưng để Chúa dẫn dắt. 

Buồn. Nhưng mở lòng.

Không hiểu. Nhưng chịu lắng nghe 

Và cuối cùng: họ được biến đổi.

2. Con đường của một số lãnh đạo Do thái.

Cũng được nghe; Cũng được soi sáng; Thậm chí có thể đã nhận ra điều gì đó. Nhưng họ không chấp nhận. Họ dập tắt. Họ khép lòng. 

Và... họ không thay đổi. Không phải vì thiếu ánh sáng. Mà vì họ từ chối ánh sáng.

V. SỨ ĐIỆP CHO CHÚNG TA HÔM NAY.

Giữa đời sống hôm nay, mỗi người chúng ta cũng đứng trước những "sự thật làm bật ngửa": Một biến cố làm ta vỡ mộng. Một lời nhắc khiến ta giật mình. Một lần đọc Lời Chúa mà thấy "nhói lòng". Đó không phải là lúc để sợ, nhưng là lúc để tự hỏi: "Chúa đang đánh thức tôi điều gì?".

Và từ đây, chúng ta được đề nghị hai điều để sống:

1. Hãy để Chúa huấn luyện mình như hai môn đệ Emmaus:

Qua Lời Chúa để lòng được sưởi ấm.

Qua Thánh Thể để mắt được mở ra. 

Đừng chỉ "nghe cho biết"... mà hãy để Lời Chúa chạm vào lòng mình.

2. Đừng cứng đầu trước ánh sáng:

Đây là điều nguy hiểm nhất: Không phải là sai… mà là biết mình sai mà không chịu đổi. Không phải là yếu đuối… mà là cố chấp dù đã thấy ánh sáng.

Khi đó, không phải Thiên Chúa đóng cửa. Chính chúng ta đóng lòng.

VI. KẾT.

Giữa một thế giới đầy tiếng nói, đầy thông tin, đầy những "sự thật nửa vời", chúng ta thật có phúc:

Vì chúng ta có một Thiên Chúa không mệt mỏi nói với chúng ta sự thật, nhưng luôn nói bằng tình yêu. Không phải để làm ta gục ngã, nhưng luôn để làm ta đứng dậy. Không phải để kết án, nhưng luôn để cứu.

Và nếu hôm nay, có một điều gì đó trong lòng ta đang "bị chạm", đang "bị đánh động", xin hãy đừng sợ. Vì rất có thể, đó chính là lúc Chúa đang đi bên ta trên con đường Emmaus của đời mình.

Hãy nhớ: Trong đời, có những sự thật rúng động làm "bật ngửa"... Nhưng Thiên Chúa không bao giờ đánh ngã con người. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TỪ THẤT VỌNG VÀ SỢ HÃI ĐẾN VUI MỪNG HY VỌNG

Bữa Tiệc Ly tại Emmaus - Stom, Matthias. Bảo tàng Quốc gia Thyssen-Bornemisza

“Supper at Emmaus - Bữa tối tại Emmau” bởi Matthias Stom (1600-1651)

Cuộc hành trình từ Giêrusalem đến làng Emmau không chỉ là một quãng đường dài khoảng mười một cây số, nhưng còn là hành trình đi từ bóng tối tuyệt vọng đến ánh sáng rạng rỡ của niềm tin. Câu chuyện về hai môn đệ trên đường Emmau (Luca 24: 13-35) là một trong những trang Tin Mừng đẹp nhất, mô tả sống động sự đồng hành của Chúa Phục Sinh với con người trong những lúc tăm tối nhất của cuộc đời.

1. Khi niềm tin và hy vọng dần tắt như buổi chiều tà

Tin Mừng Luca mở đầu bằng hình ảnh hai người môn đệ đang rời Giêrusalem, nơi vừa diễn ra cuộc khổ hình và cái chết của Thầy họ. Đối với họ, Giêrusalem giờ đây là biểu tượng của sự thất bại, của những giấc mơ tan vỡ và của một nấm mồ đá lạnh lẽo. “Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Chúa Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Ngài” (Lc 24:14-16)

Sự “ngăn cản” ở đây không chỉ là yếu tố vật lý, mà là sự ngăn cản của tâm hồn. Khi nỗi đau quá lớn, người ta thường chỉ thấy bóng tối của chính mình. Họ nói về Chúa Giêsu như một nhân vật thuộc về quá khứ: “Chúng tôi trước đây vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi” (Lc 24: 21). Lời nói “trước đây vẫn hy vọng” chứa đựng một nỗi tiếc nuối cay đắng, cho thấy niềm tin của họ đã bị chôn vùi cùng với thân xác của Thầy trong huyệt mộ.

Trong cuộc sống, chúng ta cũng thường xuyên rơi vào “tâm trạng Emmau” này khi một kế hoạch lớn bị sụp đổ, một người thân yêu ra đi, hoặc khi đối diện với những nghịch cảnh mà chúng ta cho rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Tại sao chúng ta lại thất vọng và sợ hãi? Vì chúng ta cảm thấy mình không thể kiểm soát đời mình nữa và thiếu tin tưởng vào Đấng nắm giữ vận mệnh. 

Một sĩ quan công giáo người Anh được sai đến phục vụ tại một nơi xa xôi hẻo lánh. Ông cùng với gia đình xuống tàu đến một nơi được chỉ định. Tàu rời bến được vài ngày thì biển động dữ dội. Một cơn bão ập đến làm tàu có nguy cơ bị đắm. Mọi người trên tàu hết sức sợ hãi. Bà vợ của vị sĩ quan là người hoảng loạn hơn cả. Bà thấy chồng vẫn bình thản vô tư, nên đã không tiếc lời trách móc chồng đã đưa cả gia đình vào mối nguy hiểm. Để trả lời, ông rút kiếm dí vào ngực vợ. Mới đầu mặt mày bà tái xanh, nhưng sau đó bà bỗng cười lớn tiếng. Thấy vậy, viên sĩ quan hỏi: “Sao em có thể cười khi mũi kiếm sắp đâm vào ngực?” Bà đáp: “Vì em biết lưỡi kiếm nằm trong tay người yêu em”. Vị sĩ quan ôn tồn nói: “Vậy tại sao anh phải sợ cơn bão khi biết nó nằm trong tay Chúa, Đấng luôn yêu thương anh?”

Một bài học đắt giá về niềm tin. Hai môn đệ trên đường Emmau cũng giống như người vợ trong cơn bão. Họ nhìn thấy một “cơn bão” trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhìn thấy “thanh gươm” của cái chết, nhưng họ quên mất rằng mọi sự đều nằm trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương họ vô cùng. Nỗi sợ hãi xuất hiện khi chúng ta tách rời các biến cố ra khỏi tình yêu của Chúa. Khi chúng ta chỉ nhìn vào nguy nan mà không nhìn vào Đấng giải quyết vấn đề, chúng ta sẽ thấy mình đơn độc và tuyệt vọng.

Chúa Giêsu đã trách hai môn đệ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!” (Lc 24: 25). Nỗi sợ làm tê liệt lý trí, nhưng niềm tin dựa trên Lời Chúa sẽ mở ra một nhãn quan mới.

2. Người bộ hành kỳ lạ và sức mạnh của Lời

Chúa Giêsu không hiện ra trong hào quang chói lọi để lấn át nỗi sợ của họ ngay lập tức. Ngài chọn cách khiêm nhường: đi bên cạnh, đặt câu hỏi và lắng nghe. Ngài cho họ cơ hội để trút đổ mọi nỗi lòng. Sau đó, Ngài dùng Kinh Thánh để soi sáng tâm hồn họ: “Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24: 27)

Lòng họ bắt đầu ấm lại. Lời Chúa giống như ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn đang băng giá vì tuyệt vọng. Tuy nhiên, họ vẫn chưa nhận ra Ngài. Một chi tiết quan trọng: việc học Kinh Thánh để hiểu biết là cần thiết, nhưng để thực sự “nhận biết” Chúa Phục Sinh, cần có một sự gặp gỡ thân tình và sâu sắc hơn, đó là bàn tiệc bẻ bánh.

Khi gần đến làng, Chúa Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Ngài tôn trọng tự do của con người. Ngài chỉ ở lại khi được mời: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn” (Lc 24: 29). Và chính tại bàn ăn bình dị trong quán trọ nhỏ bé ấy, một phép lạ đã xảy ra: “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài, nhưng Ngài lại biến mất” (Lc 24: 30-31)

Khoảnh khắc “bẻ bánh” đã kết nối mọi thứ: những lời giảng dạy, cuộc khổ nạn và sự hiện diện hiện tại. Họ nhận ra rằng Đấng đang bẻ bánh trước mặt họ chính là Đấng đã bị treo trên Thập giá. Bóng tối của sự tuyệt vọng tan biến, nhường chỗ cho niềm vui khôn tả.

Một trong những tác phẩm xuất sắc nhất khắc họa khoảnh khắc này chính là bức họa của Matthias Stom vẽ Chúa Phục Sinh. Ngài đang ngồi cùng bàn với hai môn đệ tại Emmau, có cả người hầu bàn. Điều gây ấn tượng là vẻ mặt ngạc nhiên sáng rỡ của hai môn đệ lúc họ nhận ra Chúa. 

Bức họa nổi tiếng này được đặt trong một viện bảo tàng, và có một chuyên viên phụ trách giải thích ý nghĩa của nó cho các khách tham quan. Một cặp vợ chồng đau khổ vì mất con tìm đến bảo tàng nhằm làm nguôi ngoai nỗi buồn. Họ bị cuốn hút và xúc động bởi lời thuyết minh đầy xác tín của người hướng dẫn về bức họa “Bữa tối tại Emmau.”

Người hướng dẫn tâm sự rằng trước đây, sau cái chết của người vợ, ông từng làm việc một cách máy móc và vô hồn. Nhưng rồi ông chợt nhận ra bức họa ấy không chỉ nói về hai môn đệ xưa mà còn nói về chính mình, một lữ khách cô đơn trong tuyệt vọng. Ông bắt đầu cảm nhận Chúa Phục Sinh hiện diện như một người bạn thấu hiểu mọi nỗi đau khổ, giúp ông tìm lại hy vọng. Từ đó, mỗi lần thuyết minh là một lần ông kể về chính cảm nghiệm thực tế của mình.

Nghe vậy, cặp vợ chồng không cầm được nước mắt. Họ cũng nhận ra Chúa đang thực sự ở bên cạnh, giúp họ tìm lại lẽ sống và thấy “lòng mình bừng cháy lên” ngay giữa nỗi đau mất mát. 

Bức họa của Matthias Stom làm nổi bật khuôn mặt của Chúa Giêsu và phản ứng kinh ngạc của các môn đệ giữa một không gian tối tăm. Chúa là ánh sáng chiếu soi vào đêm đen đau khổ. Emmau không chỉ là một sự kiện lịch sử mà là một trải nghiệm đời thường của mỗi người. Ngài vẫn đang tiếp tục hiện ra trong cuộc đời mỗi người hôm nay.

3. Sứ vụ sau kinh nghiệm Emmau: trở lại Giêrusalem

Sau khi nhận ra Chúa, hai môn đệ không ở lại trong sự an nhàn của quán trọ. Họ không đợi đến sáng mai. Dù trời đã tối, dù quãng đường mười một cây số vẫn còn đầy những hiểm nguy, nhưng họ đã lập tức trỗi dậy: “Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó…Hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Ngài bẻ bánh” (Lc 24: 33, 35). 

Sự phục sinh của Chúa biến đổi những bước chân mệt mỏi thành những bước chân hăng hái. Sự phục sinh của Chúa biến những kẻ trốn chạy thành những chứng nhân. Sự hiện diện của Chúa Phục Sinh thúc đẩy con người ra khỏi sự cô lập của chính mình để đến với cộng đoàn, để sẻ chia niềm hy vọng. 

Hành trình Emmau là hành trình của mỗi Kitô hữu, là hành trình tin tưởng vào tình thương của Chúa như người vợ dù đứng trước mũi kiếm vẫn vui vẻ tin vào chồng mình. Đó là hành trình xây dựng niềm tin cậy vào Chúa giữa giông tố vì biết mọi sự đều nằm trong tay Đấng yêu thương. Chúng ta nhận ra Chúa đang đồng hành âm thầm với mỗi người chúng ta để biến khổ đau thành tình thương và đem ánh sáng Phục Sinh chiếu vào những đổ vỡ của tâm hồn.

Để giúp ta nhận ra Chúa ngay giữa đêm đen tuyệt vọng, Lời Chúa làm lòng ta “bừng cháy lên”, Thánh Thể làm mắt ta “liền mở ra và nhận ra Ngài”, để rồi từ trải nghiệm bản thân, ta được mời gọi lên đường, thắp lên hy vọng và dẫn lối anh em về với Ngài. Chúa Giêsu vẫn đang bước đi bên những mảnh đời bệnh tật, cô đơn. Ngài không cất ngay gánh nặng, nhưng ban sức mạnh qua “việc bẻ bánh” để ta vững bước.

Lạy Chúa Phục Sinh, xin ở lại và mở mắt đức tin để chúng con nhận ra Chúa trong mọi biến cố, để chúng con không còn sợ hãi, nhưng can đảm làm chứng cho tình yêu của Chúa. Amen. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH TRONG LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ

Trong hành trình đức tin, có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi, thất vọng và dường như mất hướng đi. Chúng ta tự hỏi: Chúa có thật sự đang hiện diện và đồng hành với mình không?

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta trở về với kinh nghiệm rất thật của hai môn đệ trên đường Em-mau, những người đã từng hy vọng, nhưng rồi thất vọng; từng tin tưởng, đến lúc hoang mang. Tin Mừng Lu-ca mô tả, tâm trạng của hai ông buồn thảm bỏ cuộc về quê trong khung cảnh bóng ngả chiều tà, ngày sắp tàn, bóng tối đang bao phủ không gian. Nhưng chính lúc ấy, Chúa Giê-su Phục Sinh đã đến, đồng hành và biến đổi họ. Chứng tỏ, Chúa không vắng mặt, nhưng luôn hiện diện trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, và trong chính hành trình đời sống của mỗi người chúng ta.

Chúa Phục Sinh, niềm hy vọng của chúng ta

Bài đọc trích sách Tông đồ Công vụ (Cv 2,14.22-32) thuật lại việc Phê-rô đứng trước dân chúng Giê-ru-sa-lem, nhân lễ Ngũ Tuần, công bố rằng, “Đức Giê-su Na-da-rét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và phép lạ” (x.Cv 2,22). Dù bị nộp và đóng đinh, “Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết” (x. Cv 2,24). Câu nói: “không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong cõi chết” nhấn mạnh rằng quyền năng Thiên Chúa vượt trên mọi thất bại, đau khổ và bất công.

Chúa Phục Sinh là niềm hy vọng sống cho nhân loại hôm nay. Trong thế giới hiện đại, nhiều người cảm thấy chán nản trước bạo lực, chiến tranh, hay những bất công xã hội. Thánh Phao-lô nhắc nhở rằng, quyền năng Thiên Chúa vượt trên mọi hoàn cảnh, hay như Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Ai đặt niềm tin vào Chúa Phục Sinh sẽ không bao giờ thất vọng”. Niềm hy vọng này không hời hợt, nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết và mở ra đời sống mới cho chúng ta.

Máu Chúa Ki-tô là giá cứu chuộc

Theo thánh Phê-rô thì ơn cứu chuộc không dựa vào của cải vật chất hay những hình thức tôn giáo bên ngoài: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà được cứu chuộc… nhưng bằng máu châu báu của Đức Ki-tô, Con Chiên tinh tuyền” (x.1 Pr 1,18-19). Máu Chúa Giê-su là hy tế trọn vẹn, vô giá, nhờ đó chúng ta được rửa sạch tội lỗi, đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa, sống đời sống thánh thiện giữa thế gian.

Như Thánh Au-gút-ti-nô viết: “Chúa Ki-tô là Con Chiên Thiên Chúa, nhờ máu Ngài chúng ta được cứu chuộc và trở thành dân của Ngài” (De Trinitate, 15,3). Đức cố Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI cũng nhấn mạnh: “Thánh Thể là khoảnh khắc Chúa Giê-su hiện diện sống động giữa chúng ta; nhờ đó Ngài biến đổi chúng ta để sống theo tình yêu” (Sacramentum Caritatis, 6).

Giữa những khổ đau, hay bất công, chúng ta được mời gọi sống lòng biết ơn Chúa, tuân giữ Lời Người, và để hy tế của Người biến đổi đời sống. Máu châu báu Chúa Ki-tô không chỉ là ký ức lịch sử, mà là sức mạnh nội tâm giúp chúng ta kiên trung, sống công bằng, bác ái trước những thử thách của thời đại.

Nhận ra Chúa trong Lời và Thánh Thể

Chúng ta hình dung ra dáng đi, vẻ mặt và tâm tình của hai người đang bỏ cuộc như thế nào. Giữa bóng đêm của ngày đang qua và bóng tối đang phủ kín tâm trí họ, Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra đồng hành và “giải thích Kinh Thánh… bắt đầu từ Mô-sê và các tiên tri” (x. Lc 24, 27), làm cho tâm hồn họ “bừng cháy”. Chúa đã nhóm lên một tia sáng, khơi lên niềm hy vọng, đưa họ ra khỏi bóng tối của buồn phiền và thất vọng, thức tỉnh lòng họ khao khát muốn được ở gần Người, khiến họ nài ép: “Mời ông ở lại với chúng tôi“, với lý do “vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24, 29).

Họ không bao giờ nghĩ rằng người khách lạ ấy là chính Thầy mình sống lại. Với một hành vi “bẻ bánh” đơn giản trong bữa ăn (Lc 24, 35), trí khôn được soi sáng, con tim được đốt nóng, những dấu chỉ bắt đầu gợi lên lòng sốt mến và thôi thúc họ “chỗi dậy trở về Giêrusalem” (Lc  24, 33).

Hình ảnh bẻ bánh là biểu tượng Thánh Thể, nơi Chúa Giê-su hiện diện sống động. Nhận ra Người trong Lời và Thánh Thể là cốt lõi đời sống Ki-tô hữu. Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô nhắc: “Khi tham dự Thánh Thể, chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giê-su không chỉ trong bánh và rượu, mà trong anh chị em đang cần tình yêu và sự giúp đỡ của chúng ta” (Evangelii Gaudium, 276).

Sau khi nhận ra Chúa, hai môn không giữ niềm vui phục sinh cho riêng mình, mà chia sẻ với cộng đoàn. Đây là sứ vụ của mọi Ki-tô hữu hôm nay: nhận ra Chúa trong đời sống hằng ngày, rồi mang niềm vui và hy vọng phục sinh đến cho người khác, nhất là những ai đang cô đơn, đau khổ, hay thất vọng.

Câu chuyện Em-mau mời gọi chúng ta: Đừng chỉ nhìn vào thất bại hay nỗi buồn; Chúa vẫn đồng hành. Hãy lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể để nhận ra Chúa và được biến đổi.

Như hai môn đệ Em-mau, chúng ta được mời hãy để Lời Chúa và Thánh Thể soi sáng, nâng đỡ và biến đổi chúng ta, để mỗi hành động yêu thương, phục vụ, và hy vọng của chúng ta trở thành dấu chỉ sống động cho sự hiện diện của Chúa Phục Sinh giữa thế giới hôm nay. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TỪ BỐI RỐI ĐẾN HY VỌNG VÀ TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN

1. Cuộc tháo chạy của những tâm hồn tan vỡ 

Trình thuật về hai môn đệ trên đường Emmau mở đầu bằng một hình ảnh đầy u ám: hai người đàn ông lầm lũi rời bỏ Giêrusalem ngay ngày thứ nhất trong tuần. Giêrusalem lúc bấy giờ đối với họ không còn là thành thánh, mà là nơi của những cơn ác mộng, nơi chôn giấu niềm hy vọng sau cái chết của Thầy mình trên Thập giá. Vấn đề của hai môn đệ không chỉ là nỗi buồn mất đi một người thầy, mà là sự sụp đổ của một niềm tin. Bởi vì họ từng mong đợi một Đức Giêsu uy quyền sẽ giải phóng dân tộc theo nghĩa trần thế. Nhưng khi chứng kiến Ngài chết nhục nhã, họ cảm thấy mọi sự đã chấm dứt. Câu nói: "Chúng tôi vẫn hy vọng Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel" nghe thật xót xa, vì lời nói ấy mang nặng sự nuối tiếc về một điều họ cho rằng đã thuộc về quá khứ, một niềm tin đã chết dọc đường. 

2. Lòng bừng cháy và niềm hy vọng được cứu độ 

Dù hai môn đệ có ý định rời xa Chúa, nhưng Chúa không bao giờ rời xa họ. Ngài chủ động tiến đến, cùng đi và cùng lắng nghe. Ngài đã dùng hai "nguồn sức mạnh" quan trọng để chữa lành tâm hồn đang hoang mang của họ. Trước hết, Đức Giêsu soi sáng họ bằng Lời Chúa. Ngài bắt đầu giải thích Kinh Thánh cho họ, ngõ hầu giúp họ thấy rằng đau khổ và Thập giá không phải là một sự cố ngoài ý muốn, mà là con đường dẫn đến sự sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi hiểu ra chân lý này, gánh nặng trong lòng họ được giải tỏa dần. Chính họ sau này đã thừa nhận: "Lòng chúng ta đã chẳng cháy bừng lên khi Ngài nói chuyện với chúng ta đó sao?". Lời Chúa lúc này không còn là những con chữ khô khan, mà là ngọn lửa sưởi ấm trái tim đang nguội lạnh nơi các ông. Tiếp đến là cuộc gặp gỡ qua Bí tích Thánh Thể. Điểm cao nhất của câu chuyện là bữa ăn tại Emmau. Khi Chúa Giêsu thực hiện các cử chỉ: Cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ, ngay lập tức mắt họ mở ra. Đây không phải là một bữa ăn thông thường, mà là sự tiếp nối của mầu nhiệm Tiệc Ly. Qua đó, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ rằng: Ngài không còn ở lại với các ông bằng hình dạng thể lý, nhưng Ngài hiện diện thực sự và trọn vẹn trong Bí tích Thánh Thể. Chỉ qua việc hiệp thông này, các ông mới có thể nhận ra Thầy mình một cách đích thực nhất và niềm hy vọng cứu độ được khai mở. 

3. Đổi hướng cuộc đời và lên đường làm chứng 

Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh đã dẫn đến một sự biến đổi triệt để. Hai môn đệ không còn mệt mỏi, không còn sợ bóng đêm. Họ lập tức đứng dậy quay trở lại Giêrusalem để báo tin cho cộng đoàn. Trong đời sống đạo hôm nay, chúng ta cũng thường có những cuộc "tháo chạy" như thế. Khi công việc làm ăn thất bại, gia đình đổ vỡ, hay khi lời cầu nguyện dường như chưa được Chúa nhận lời, ta cũng muốn rời bỏ giáo xứ, rời bỏ hội đoàn và nhất là rời bỏ đời sống đức tin để sống một cuộc sống vô định hay đi tìm một định hướng mới cho cuộc đời… Lý do khiến chúng ta thất vọng vì Chúa không hành động theo ý mình, và thế là đôi mắt tâm hồn bị che lấp, không còn nhận ra Chúa đang đi bên cạnh mình. Tuy nhiên, dưới ánh sáng Lời Chúa mặc khải trong bài Tin Mừng hôm nay cho các môn đệ, thì cũng là mặc khải cho chính chúng ta và mời gọi chúng ta tìm về nguồn mạch Lời Chúa và Thánh lễ, nhất là nơi Bí tích Thánh Thể để mỗi khi cảm thấy đức tin xuống dốc, chúng ta đừng đi tìm sự an ủi ở những thú vui trần thế. Hãy trở về với Kinh Thánh và bàn tiệc Thánh Thể. Chỉ có Lời Chúa mới giải đáp được những u uẩn của cuộc đời, và chỉ có Thánh Thể Người mới đủ sức bổ dưỡng cho linh hồn chúng ta. Đừng đi lễ như một thói quen, nhưng hãy đi để được Chúa "mở mắt" tâm hồn. Sau cùng là mời gọi trở thành những chứng nhân nhiệt thành. Hai môn đệ nằm trong số những người đầu tiên được vinh dự loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho cộng đoàn các Tông đồ. Mỗi chúng ta sau khi kết thúc Thánh lễ cũng được sai đi như thế. Chúng ta được mời gọi mang niềm hy vọng về lại gia đình, nơi công sở hay xóm giềng. Đừng mang bộ mặt u sầu của kẻ thất bại, nhưng hãy mang niềm vui của người đã nhận ra Chúa đang sống và đang ở cùng mình.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin hãy ở lại với chúng con, vì đời chúng con có những lúc “chiều tà u tối”. Xin cho chúng con biết khao khát Lời Chúa và yêu mến Thánh Thể, để từ những kẻ yếu đức tin, chúng con trở thành những chứng nhân can trường, luôn biết thắp lên ngọn lửa hy vọng cho thế giới hôm nay. Amen. mục lục

Jos. Vinc. Ngọc Biển

TẠI SAO CÁC MÔN ĐỆ KHÔNG NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH?

I. SỰ NGẠC NHIÊN BAN ĐẦU

Khi đọc sơ qua bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, tôi rất lấy làm lạ. Lạ là bởi vì hai môn đệ này đã đi theo Chúa vài năm, chứ không phải ít. Và các thánh sử đều tường thuật: thân xác của Chúa Giêsu, trước và sau khi phục sinh, chỉ là một.

Ngài đã phục sinh cũng với chiều cao, vóc dáng, cũng những vết thương, với những lỗ đinh ở tay, ở chân và bên cạnh sườn. Vậy tại sao họ lại không nhận ra Người? Cái gì đã ngăn cản đôi mắt họ như vậy?

II. HAI NGUYÊN NHÂN: KHÔNG HIỂU KINH THÁNH VÀ CHẬM TIN

Nhưng đọc kỹ một chút, và sau khi suy niệm, tôi thấy thánh sử đã cho biết có hai lý do khiến các ông không nhận ra Người.

Thứ nhất là vì các ông không hiểu Kinh Thánh. Cho nên Chúa mới nói: các anh chẳng hiểu gì cả.

Thứ hai là các ông chậm tin. Cho nên Chúa đã trách: lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ.

Họ không hiểu Kinh Thánh không phải vì họ không được học hay không có ai giải thích cho họ. Trước khi chịu khổ nạn, chính Chúa Giêsu đã ba lần tiên báo cho các ông về việc Ngài sẽ chịu đau khổ, chịu chết và sẽ sống lại.

Lần thứ nhất, sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin, Chúa nói rõ: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.

Lần thứ hai, khi các môn đệ đang ở Galilê, Người nhắc lại: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời; họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ trỗi dậy.

Lần thứ ba, trên đường lên Giêrusalem. Lần này Chúa nói chi tiết hơn với họ: Thầy sẽ bị nộp cho dân ngoại, bị nhạo báng, đánh đòn, đóng đinh, và ngày thứ ba sẽ sống lại.

Như vậy, rõ ràng là họ đã từng nghe, từng được Chúa mặc khải cho họ biết về cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh của Ngài.

Còn nữa, là những tín hữu Do Thái. Các ông cũng đã từng được nghe lời các ngôn sứ tiên báo về Đấng Cứu Thế trong các hội đường. Nhưng họ vẫn không hiểu gì về chuyện phục sinh của Đấng Cứu Thế.

Chính vì thế, việc đầu tiên Chúa Giêsu Phục Sinh đã làm là giảng giải và cắt nghĩa cho các ông hiểu biết về Kinh Thánh. Và sau khi đã được nghe giải thích, đã hiểu Kinh Thánh, lòng của họ đã bừng cháy, mắt của họ đã mở ra, và họ nhận ra Người.

III. KINH THÁNH CỦNG CỐ ĐỨC TIN

Nói một cách khác, nhờ được học hỏi Kinh Thánh, niềm tin của các môn đệ, cũng như của các tông đồ, đã được củng cố và trở nên kiên vững hơn.

Bạn thân mến, qua bài Tin Mừng của Chúa Nhật III Phục Sinh hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta thấy: việc đọc và học hỏi Kinh Thánh rất quan trọng trong đời sống đức tin.

Nếu bạn và tôi không biết và không hiểu gì về Kinh Thánh, thì thánh Giêrônimô khẳng định: chúng ta sẽ không biết Đức Kitô là ai.

Nếu ngày xưa, niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh của hai môn đệ trên đường Emmau nói riêng, và của các tông đồ nói chung, đã được vững mạnh hơn nhờ việc các ông hiểu biết Kinh Thánh, thì hôm nay, bạn và tôi cũng hãy cố gắng đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh, để nhờ vậy, niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô Phục Sinh được kiên vững hơn, sâu đậm hơn và mạnh mẽ hơn.

IV. NHỮNG GỢI Ý CỤ THỂ

Xin hãy cố gắng đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Chỉ cần đọc 5 đến 10 phút thôi, không cần đọc nhiều.

Trước khi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ, xin hãy đọc qua các bài đọc và các bài suy niệm.

Trước khi đi ngủ, cả gia đình quây quần bên nhau, cử ra một người đọc một đoạn Tin Mừng. Lý tưởng nhất là đọc bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm sau.

Khi đọc Kinh Thánh, nếu có điều gì không hiểu hoặc có thắc mắc, bạn hãy viết xuống, sau đó gửi email hỏi các linh mục, các tu sĩ. Xin đừng ngại ngùng. Học luôn luôn đi đôi với hỏi, không có gì phải ngại cả.

V. KINH THÁNH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI

Kinh Thánh có một vị trí rất cao trọng trong đời sống đức tin của chúng ta. Vì thế, Thánh Công Đồng, trong Hiến chế tín lý về Mặc Khải (Dei Verbum), số 21, dạy rằng: Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa.

Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa, cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô, để ban phát cho các tín hữu.

VI. LỜI KẾT VÀ NGUYỆN XIN

Ước mong bạn và tôi luôn luôn nỗ lực và cố gắng hơn nữa trong việc đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh.

Tôi tin chắc rằng: nếu bạn và tôi siêng năng đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh, thì đức tin của chúng ta sẽ mỗi ngày triển nở hơn, và sẽ bén rễ sâu hơn vào Chúa Kitô Phục Sinh.

Và nhờ có một đức tin vững mạnh vào Ngài, chúng ta sẽ vượt qua tất cả mọi đau khổ, thử thách, và mọi sóng gió bão táp của cuộc đời này.

Chúng ta cầu nguyện cho nhau. Xin Chúa Kitô Phục Sinh, qua lời chuyển cầu của Thánh Gia Thất, chúc lành, ban bình an, bảo vệ và gìn giữ bạn, cũng như mọi người trong gia đình, khỏi mọi sự dữ, và luôn sống trong ơn nghĩa của Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

EMMAUS – ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN

I. KINH NGHIỆM MỞ NGỎ CHO MỌI MÔN ĐỆ

Anh chị em thân mến,

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại một trong những câu chuyện vô cùng thú vị và đặc sắc sau khi Chúa sống lại. Câu chuyện nói về những việc xảy ra cho hai môn đệ trên đường đi Emmaus.

Thật thú vị khi nhận ra: Thánh sử chỉ nhớ tên một môn đệ, là Clêôpát, còn tên người môn đệ thứ hai thì không được nhắc đến. Phải chăng đây là chủ ý của Thánh sử, để mỗi người trong chúng ta có thể tự đặt mình vào vị trí của người môn đệ thứ hai này?

Nói cách khác, kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh của các môn đệ trên đường Emmaus mãi mãi là kinh nghiệm cần phải có của mỗi người chúng ta, là môn đệ của Chúa trong mọi thời.

II. TÂM TRẠNG THẤT VỌNG VÀ TÌM KIẾM

Đối với những môn đệ trên đường đi Emmaus, tương lai của họ thực sự rất đen tối. Trước đây, trên hành trình theo Chúa, họ đã nhìn nhận Người là một ngôn sứ đầy uy quyền. Họ đã không sai lầm khi đặt trọn niềm hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen.

Thế mà Người lại chết! Chính mắt họ đã nhìn thấy cảnh người ta chôn xác Chúa. Thế là hết! Bao nhiêu hy vọng nơi Chúa giờ này bị chôn vào ngôi mộ của Người. Đối với họ, thế là hết.

Sau cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, họ cảm thấy tất cả đã mất. Họ đã mất thời gian và nỗ lực trong mấy năm qua; giấc mơ đã tan thành mây khói. Họ cần làm lại từ đầu. Họ cần hoạch định một dự án cho tương lai.

Tuy vậy, có một chi tiết thật thú vị mà chúng ta không nên bỏ qua: đó là hai môn đệ vừa đi vừa nói về những gì vừa xảy ra cho Đức Giêsu. Như vậy, tuy không còn hy vọng, nhưng hai môn đệ trên đường Emmaus vẫn khao khát tìm kiếm một lời giải thích cho tất cả sự việc vừa mới xảy ra.

III. ĐỨC GIÊSU ĐỒNG HÀNH NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC NHẬN RA

Trong khi hai môn đệ đang bàn tán, thì Đức Giêsu đến và cùng đi với họ. Theo Thánh Luca cho biết, đó là Đức Giêsu; còn các môn đệ lại không nhận ra Người.

Khi Đức Giêsu lên tiếng, thì họ dừng lại; với vẻ buồn phiền, họ đã kể cho Người biết về những chuyện vừa xảy ra.

Chúng ta hiểu được nỗi buồn phiền của các môn đệ. Nỗi buồn phiền về những gì vừa xảy ra. Tất cả đều diễn ra không theo ý muốn của họ. Đây cũng là nguyên nhân khiến họ không nhận ra Người đang đi với họ là Đức Giêsu.

Người đã đến và mở lời trước để trò chuyện với họ. Cách hành xử của Clêôpát rất thật, khi ông đã nói cho người khách lạ biết về những ý nghĩ và tâm tư của họ, về những việc vừa xảy ra tại Giêrusalem.

Cho dù họ dường như đã bị bế tắc, nhưng không bỏ cuộc. Họ vẫn tìm kiếm một lời giải thích cho các sự việc vừa xảy ra tại Giêrusalem mấy ngày qua.

IV. LỜI CHÚA KHAI SÁNG

Đến đây, người khách lạ mà hai môn đệ nghĩ rằng không biết những gì vừa xảy ra, lại chính là người cầm chìa khóa mở cho họ nhận biết những điều bí nhiệm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, muốn Đức Giêsu thực hiện.

Bắt đầu từ Môsê, người khách lạ trích dẫn các lời của các ngôn sứ, từ từ tiết lộ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

Có lẽ những gì mà người khách lạ nói hôm nay cũng không khác gì những gì mà Đức Giêsu đã giảng dạy khi còn sống với các ông. Nhưng hôm nay, các ông nghe và đón nhận trong một chiều kích mới, cho nên lòng các ông mới được bừng cháy lên.

Ngọn lửa của Thánh Thần đã thiêu đốt tâm hồn và xóa tan đi những u mê, để họ nhận ra ý nghĩa của Lời Chúa. Từ đó, họ bắt đầu hiểu con đường đau khổ và thập giá của Đức Giêsu dưới một ánh sáng hoàn toàn mới.

Họ thấy đó không phải là một thảm họa, một sự thất bại, mà là khởi đầu của một thời đại ân sủng mới.

V. NHẬN RA CHÚA TRONG VIỆC BẺ BÁNH

Đang say mê nghe giảng giải, lòng trí của họ được khai sáng, thì trời đã tối. Hai môn đệ nài ép Đức Giêsu ở lại với họ. Việc này nói lên lòng quảng đại và sự say mê lắng nghe Lời Chúa của các môn đệ.

Về phần Đức Giêsu, sau khi sống lại, Người hiện diện theo cách thức của Người. Người không ép buộc ai, nhưng chờ một lời mời. Như một vị khách, Người đứng bên cửa và gõ; ai mở ra đón nhận, thì Người bước vào và dùng bữa với họ.

Sau đó, để đáp lại lòng quảng đại và tâm hồn hiếu khách của hai môn đệ, Đức Giêsu, trong khi đồng bàn, đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ.

Tất cả các cử chỉ này quá quen thuộc, làm cho các môn đệ nhớ lại việc Thầy mình đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi ăn năm ngàn người, và nhớ lại cử chỉ của Chúa trong bữa Tiệc Ly.

Nhìn thấy các cử chỉ đó, mắt họ liền mở ra và lập tức nhận ra Người. Cử chỉ của Chúa Giêsu khi Người bẻ bánh là một chi tiết đặc thù, mà chỉ có Chúa mới làm như thế.

Cử chỉ ấy nhắc lại tinh thần tự hiến của Chúa mà các môn đệ đã từng trải nghiệm. Vì thế, hai môn đệ nhận ra Người.

VI. TỪ EMMAUS TRỞ VỀ GIÊRUSALEM

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus có thể áp dụng cho mọi người, ở mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy mình trong hai người lữ khách, mệt mỏi đi về Emmaus. Niềm tin và hy vọng dường như đã mất; tương lai mà họ hy vọng bây giờ đã sụp đổ.

Tuy nhiên, họ đã gặp một người bạn vô danh đang đi trên đường với họ. Người lữ khách mà họ chưa từng quen biết đã cho họ một cái nhìn sâu sắc, và kết nối thế giới mới với thế giới mà họ biết.

Emmaus không còn là đích điểm mà họ nhắm đến nữa. Với lòng vui sướng và thanh thoát, họ hân hoan trở về nơi các bạn của họ đang chờ, đó chính là Giêrusalem.

Nghĩ đến đó, họ lập tức lên đường trở về nơi các môn đệ đang tụ họp tại Giêrusalem, cho dù trời đã tối.

Giống như tâm trạng của người con hoang đàng: chỉ nghĩ đến nhà là nơi có hình ảnh của Cha, khiến anh không thể chần chừ được nữa, mà cần lên đường trở về ngay.

Các môn đệ cũng thế. Nhận ra Thầy là niềm vui lớn lao. Họ không còn muốn nán lại Emmaus thêm một giây, một phút nào nữa.

Họ khởi hành, và trên đường trở về Giêrusalem, tâm tư của họ không còn nặng trĩu và buồn chán nữa. Trái lại, họ nhận ra rằng, trong khi chia sẻ của ăn với Chúa tại Emmaus, họ đã sống lại một trải nghiệm trước đây: khi Chúa nuôi ăn năm ngàn người trong phép lạ bẻ bánh. Họ nhận ra Người.

VII. CHÚA HIỆN DIỆN TRONG BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Thật vậy, sự hiện diện của Chúa đã chạm đến cơn đói sâu thẳm nhất của họ. Và của ăn mà Chúa chia sẻ tại Emmaus không chỉ là của ăn vật chất, mà là lương thực giúp họ mở rộng tâm hồn và thân xác để đón nhận.

Và đó chính là cách thức Người hiện diện: trong Bí tích Thánh Thể, nơi việc bẻ bánh. Đây chính là ý nghĩa mà việc bẻ bánh của Chúa Giêsu muốn dành cho họ sau khi Người Phục Sinh.

Người sẽ hiện diện theo cách thức ấy cho đến ngày Người lại đến trong vinh quang.

VIII. LỜI MỜI GỌI

Trong tâm tình đó, những lời Người nói, những cử chỉ Người làm trong bài Tin Mừng hôm nay chạm đến trái tim chúng ta, cho chúng ta thêm can đảm, kiên tâm, hy vọng, và tiếp tục kéo chúng ta lại gần Chúa và gần nhau hơn.

Như vậy, dù chúng ta có thể đang sống trong nỗi buồn phiền, thất vọng, và thậm chí không nhận ra Chúa, nhưng Chúa vẫn đang đồng hành.

Người tiếp tục nói với chúng ta qua Lời Chúa, và tỏ mình trong các bữa tiệc của lòng mến. Hơn thế nữa, Chúa còn hiện diện không chỉ nơi các nơi thờ phượng, mà còn ở nơi niềm tin và lòng mến được chia sẻ cho nhau.

Và một khi đã gặp và nhận ra Chúa, thì chúng ta sẽ lên đường công bố Tin Mừng Phục Sinh đến cho những người chung quanh. Amen. mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan