SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN_A

16-05-2026 570 lượt xem

[Cv 1,1-11;  Ep 1,17- 23; Mt 28,16-20]

Click vào mục lục xem bài

GIẤC MƠ VỀ TRỜI – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA LÊN TRỜI, NIỀM VUI VÀ HY VỌNG CHO NHÂN THẾ – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

VỀ TRỜI VÀ TIẾP TỤC HIỆN DIỆN – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HÃY ĐI RAO GIẢNG CHO MUÔN DÂN – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CHÚA LÊN TRỜI, CHÚNG TA LÊN ĐƯỜNG – Phêrô Phạm Văn Trung

CHÚA KHÔNG RỜI KHỎI "ÔLIU" CỦA ĐỜI NGƯỜI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

GIẤC MƠ VỀ TRỜI

Tự bản chất, con người tuy hiện diện nơi trần thế nhưng luôn hướng về thế giới vĩnh hằng. Đó là giấc mơ về trời. Giấc mơ này, Thượng Đế đã in sâu nơi tâm khảm con người, bất kể họ thuộc về nền văn hóa nào. Ước vọng bay cao bay xa được thể hiện trong kho tàng văn chương, ca dao tục ngữ của các dân tộc. Triết gia Platon (khoảng năm 420 trước Công nguyên) khẳng định có một thế giới phi vật chất, vĩnh cửu, bất biến, nơi cư trú của các Hình Thức (Forms), đó là những bản thể hoàn hảo của mọi sự vật. Thế giới ấy là quê hương đích thực của con người. Một cách nào đó, con người bị “đi đày” ở trần gian, và ai cũng mong trở về với thế giới của mình. Đương nhiên, thế giới phi vật chất ấy không giống như Thiên Đàng trong giáo huấn của Đức Giê-su và trong Giáo lý của Ki-tô giáo.

Cùng với Thánh Phao-lô, Ki-tô giáo khẳng định: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Khi xác định Trời là quê hương vĩnh cửu, Ki-tô hữu tin rằng, cuộc sống trần gian là cuộc hành trình. Nơi đó, con người phải đối diện với biết bao gian nan sóng gió. Tuy vậy, “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”, những khó khăn thử thách lại là dịp để chúng ta tôi luyện để chứng tỏ bản lĩnh và lòng trung thành đối với Đức Ki-tô, Đấng mà chúng ta đã chọn lựa làm lý tưởng cuộc đời.

Trong sự kiện về trời (hoặc thăng thiên) của Đức Giê-su, giấc mơ về trời của con người một cách nào đó đã trở thành hiện thực. Quả vậy, khi về trời, Chúa Giê-su dùng quyền năng Thiên Chúa của mình mà về với Chúa Cha. Người cũng mang theo bản tính nhân loại của Người, là bản tính Người có do mầu nhiệm Nhập thể, vì Chúa Giê-su vừa là Thiên Chúa thật và là người thật. Như thế, nơi Chúa Giê-su, nhân loại hy vọng sẽ được về trời để cùng với Người chiêm ngưỡng Chúa Cha trong hạnh phúc bất diệt. Chính Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,2b-3). Trong “Lời Tiền tụng” của Thánh lễ Thăng Thiên, Giáo Hội thưa với Chúa Cha: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Đầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước”.

Hạnh phúc Nước Trời được chuẩn bị cho mọi người, không phân biệt nguồn gốc, văn hóa hay ý thức hệ. Tuy vậy, không phải mọi người được vào Nước Trời. Chúa Giê-su mời gọi: “Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14). Thánh Phao-lô lại dùng hình ảnh một cuộc đua trên thao trường, những ai cố gắng thì mới hy vọng đạt giải: “Anh em không biết sao: trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người được giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng” (1Cr 9,24). Đương nhiên, giải thưởng ở trường đua hoàn toàn khác với hạnh phúc Nước Trời, vì giải thưởng cuộc đua chỉ có một, còn hạnh phúc Nước Trời thì hễ ai cố gắng và thiện chí đều có thể đạt được. Chính Thánh Phao-lô cũng phải cố gắng: “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9,27). Giấc mơ về trời chỉ được thực hiện khi ta nhiệt thành cộng tác với Chúa, và chuyên tâm thực hiện giáo huấn của Người.

Khi hướng về trời cao, chúng ta sẽ dễ dàng buông bỏ. Quả vậy, khi xác định cuộc đời này chỉ là cõi tạm, ta không còn bon chen tính toán hận thù. Khi cảm nhận cuộc đời này chóng qua, ta sẽ cố gắng tích lũy cho mình những của cải bền vững.

Nước Trời không chỉ là giấc mơ chúng ta có thể đạt được ở “thế giới bên kia”. Trái lại, Nước Trời là một thực tại, đã khởi đầu ở trần gian và được Đức Giê-su loan báo. Người đã khẳng định với người Pha-ri-siêu: “Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông”. Điều đó có nghĩa, chính Đức Giê-su là Nước Trời. Người đang hiện diện trước mắt những người Pha-ri-siêu. Điều này cũng có nghĩa: Ai đón nhận giáo huấn của Người, thì họ thuộc về Nước Trời. Họ cảm nhận được hạnh phúc Nước Trời ngay khi còn sống ở trần gian. Thánh Phao-lô quả quyết: “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17).

Mừng lễ Thăng Thiên, tín hữu được mời gọi hãy trở nên “chứng nhân Nước Trời”. Hướng về Trời không phải để chúng ta sống trong vô vi bất động. Trái lại, trong khi chờ đợi Vương Quốc của Chúa, tín hữu được mời gọi làm cho Vương Quốc ấy càng ngày càng hiển hiện trong cuộc sống đời này. Các sứ thần nói với các tông đồ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11). Các Tông đồ đã hiểu sứ điệp này. Các ông xuống núi, vui vẻ lạc quan rao giảng và làm chứng về Chúa Giêsu. Nhờ đó, cộng đoàn tín hữu phát triển nhanh chóng.

Chúng ta đọc hằng ngày: “(Xin cho) Nước Cha trị đến”. Đây là một lời cầu nguyện với Chúa Cha. Đây cũng là một sứ mạng mà Chúa trao phó cho chúng ta: Hãy làm cho Vương Quốc yêu thương và công bình bác ái trải rộng đến mọi nơi mọi người. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA LÊN TRỜI, NIỀM VUI VÀ HY VỌNG CHO NHÂN THẾ

Cách đây 40 ngày, toàn thể Giáo Hội hân hoan cử hành đại lễ Chúa Giê-su sống lại với niềm vui khôn tả. Hôm nay Giáo Hội cùng con cái mình cử hành đại lễ Chúa Giê-su lên trời với niềm hy vọng ngập tràn.

Chúa lên trời mở đường cho nhân thế

Chúa lên trời mang theo bản tính loài người về trời. Chúa không “rời xa” nhân thế, nhưng bước vào vinh quang của Chúa Cha và dẫn nhân loại bước vào sự sống đời đời. Chúa lên trời là chiếc cầu nối giữa trời và đất, giữa thân phận yếu đuối của con người với vinh quang bất diệt của Thiên Chúa.

Toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả. Nội dung chứa đựng trong những lời sau: “Chúa Giê-su đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong… “. Và sau đó “Người lên Trời” (x. Cv 1, 1– 11).

Như vậy, Chúa lên trời không phải là kết thúc sứ mạng, nhưng để trao lại sứ mạng cho Hội Thánh. Các tông đồ từ những con người nhút nhát, sợ hãi, nay được mời gọi trở thành chứng nhân cho Tin Mừng giữa thế gian. Chúa nói với các ông: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy…” (Cv 1,8).

Hình ảnh các môn đệ “ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang đi xa” cũng rất ý nghĩa. Hai thiên thần nói với họ: “Hỡi người Ga-li-lê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời?” (Cv 1,11).

Củng cố niềm hy vọng cho con người hôm nay

Lời hai thiên thần nói với các môn đệ “Sao các ông còn đứng nhìn lên trời?” (Cv 1,11), cũng là câu hỏi dành cho mỗi Ki-tô hữu hôm nay. Đức tin không phải chỉ để ngước mắt nhìn trời, nhưng còn là dấn thân xây dựng trần gian theo tinh thần Tin Mừng. Người tín hữu không được sống thụ động, bi quan hay trốn tránh trách nhiệm ở thế gian này. Chúa muốn chúng ta vừa hướng lòng về quê trời, vừa tích cực biến đổi thế giới đang sống thành nơi chan chứa yêu thương, công lý, bình an và hy vọng.

Trong bài đọc 2, Thánh Phao-lô cầu nguyện cho tín hữu Ê-phê-xô: “Xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi” (Ep 1,18).

Niềm hy vọng Ki-tô giáo không phải là thứ lạc quan mơ hồ, nhưng đặt trên nền tảng là chính Đức Ki-tô Phục Sinh và lên trời hiển vinh. Chúa Giê-su về trời, Người mang theo bản tính người chúng ta vào trong cõi vinh quang Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là cuộc đời chúng ta không kết thúc trong đau khổ, thất bại hay cái chết. Quê hương đích thực của con người là ở nơi Thiên Chúa.

Trong một thế giới đầy bất an hôm nay, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, đổ vỡ gia đình, lối sống hưởng thụ và vô cảm, nhiều người mất phương hướng và đánh mất hy vọng. Lễ Chúa Lên Trời nhắc chúng ta rằng cuộc sống này không vô nghĩa. Con người được dựng nên cho những giá trị cao cả hơn tiền bạc, danh vọng hay quyền lực.

Chúng ta bắt đầu sứ mạng Chúa ủy thác

Tin Mừng hôm nay kể rằng trước khi lên trời, Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20).

Đó là sứ mạng của Giáo Hội ở mọi thời đại. Người Ki-tô hữu không chỉ giữ đạo cho riêng mình nhưng còn phải trở thành người loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống yêu thương, tha thứ và phục vụ.

Sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh hôm nay, không nhất thiết phải đi đến những vùng đất xa xôi. Truyền giáo bắt đầu ngay trong chính gia đình mình. Chẳng hạn như một người cha biết hy sinh cho con cái, một người mẹ âm thầm cầu nguyện, một người trẻ sống trung thực giữa xã hội gian dối, một Ki-tô hữu dám bảo vệ sự thật và công bằng giữa môi trường đầy ích kỷ là truyền giáo rồi.

Chúa lên trời cũng nhắc chúng ta về trách nhiệm sống trưởng thành trong đức tin. Các tông đồ không còn được nhìn thấy Chúa bằng con mắt thể lý nữa. Họ phải sống bằng niềm tin. Đức tin trưởng thành là bước đi dù có lúc không cảm thấy Chúa hiện diện; trung thành dù gặp thử thách; yêu thương cả lúc bị tổn thương.

Nhiều người trong chúng ta hôm nay dễ thất vọng khi cầu nguyện mà chưa được nhậm lời, sống tốt mà vẫn gặp đau khổ. Nhưng Chúa Giê-su lên trời cho thấy rằng sau thập giá là vinh quang, sau đau khổ là phục sinh. Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Người vẫn hiện diện cách vô hình qua Lời Chúa, các bí tích và Thánh Thần.

Đặc biệt, lễ Chúa Lên Trời còn mời gọi chúng ta sống tâm tình hướng thượng. Xã hội hiện đại dễ kéo con người xuống bởi chủ nghĩa vật chất và hưởng thụ. Chúa lên trời lôi kéo con người lên.

Người Ki-tô hữu được mời gọi sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta làm việc, học tập, xây dựng tương lai, nhưng luôn lòng về quê trên trời.

Chúa lên trời, xin cho chúng con được ái mộ những sự trên trời. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

VỀ TRỜI VÀ TIẾP TỤC HIỆN DIỆN

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng mừng Lễ Chúa Giê-su lên trời. Bài đọc một và trình thuật Tin Mừng trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tuy có một chút khác biệt, nhưng nội dung chính yếu là nói về việc Đức Giê-su được cất nhắc lên trời trước mắt các môn đệ. Như vậy câu hỏi đầu tiên chúng ta cần san sẻ cho nhau là trời ở đâu?

Vào thời Đức Giê-su, và hầu hết những người dân thường ít hiểu biết như chúng ta vẫn còn cho rằng trời ở trên cao, đất là nơi chúng ta đang sống và được bao quanh bởi biển cả và đại dương, và dưới hay trong lòng quả đất này là hỏa ngục.

Trời là nơi Chúa ngự. Ngự trị không nhắm đến nơi chốn cho bằng mô tả sự hiện diện của Chúa. Sự hiện diện này sẽ không còn tuỳ thuộc vào một khoảng không gian nào đó hay một mốc thời gian nào của lịch sử; nhưng là một sự hiện diện không bị giới hạn bởi không gian và không lệ thuộc vào thời gian. Thiên Chúa hiện diện từ trước và cho đến muôn đời, vô thủy vô chung. Như vậy ở đâu có Chúa là ở đó có trời. Và như lời Chúa đã phán thì ở đâu có hai hay ba người họp lại vì danh Chúa thì Chúa hiện diện giữa họ.

Ý nghĩa của câu này có thể giải thích là ở đâu có sự hiệp nhất, thông cảm, yêu thương thì có Chúa ở đó; nói khác đi tại nơi đâu mà con người cùng chia sẻ một đức tin, cùng san sẻ và trao ban một lòng mến thì tại nơi đó có sự hiện diện của Chúa. Như vậy, trời hay thiên đàng không ám chỉ đến địa danh hay nơi chốn nào đó cho bằng một cách mà con người dùng để diễn tả khi nói đến nơi ngự trị của Chúa. Nói khác đi, khi mô tả việc Chúa lên trời có nghĩa là chúng ta nói đến việc Chúa Giê-su ngự trị bên hữu Thiên Chúa.

Trên thực tế, làm sao chúng ta có thể giải thích về ý niệm về một vị Thiên Chúa vừa hiện diện lại vừa vắng mặt trong cuộc sống của chúng ta nói riêng và trong các sinh hoạt của thế giới này nói chung. Rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống với quan niệm về một vị Thiên Chúa ở trên trời, xa vắng với các sinh hoạt của con người. Với cái nhìn như thế, mỗi khi chúng ta gặp khó khăn là lúc chúng ta chạy đến cầu xin với Ngài đến can thiệp và giải quyết thay cho chúng ta.

Có phải cho đến hôm nay Chúa mới đuợc đưa lên trời hay không? Thật ra, Đức Giê-su đã về nhà Cha, tiếp nhận vinh quang như đã có từ Thiên Chúa ngay khi Người trút hơi thở và trao ban Thần Khí cho chúng ta là những người đứng dưới chân Thập Giá. Việc Chúa Giê-su được cất nhắc về trời hôm nay không phải là việc ra đi để rồi không hiện diện nữa; nhưng đây chính là một sự hiện diện mới mà chúng ta và các môn đệ cần cảm nhận bằng con mắt đức tin và thể hiện bằng việc làm để minh chứng điều mà chúng ta và các môn đệ đã tin.

Vì thế, không có chuyện vắng mặt. Đức Giêsu, Đấng đã chịu thương tích và bị giết vào dịp lễ Vượt Qua, vẫn hiện diện và không hề bỏ rơi các môn đệ; Người đã sống lại và tiếp tục sống cho họ và với họ như những gì mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một hôm nay, đó là “sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa.”

Cách thức hiện diện tuy khác, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Trong khi thi hành sứ vụ, Người đã không thể ở với mọi người tại mọi nơi khác nhau. Nay qua sự chết trong vâng phục mà Người đã được tôn vinh và hiện diện ở mọi nơi, mọi chốn và ở với mọi người trong mọi cảnh huống của đời họ.

Chúng ta mừng sự thay đổi, hân hoan đón nhận cách thức hiện diện mới của Chúa. Tuy, chúng ta không còn đuợc tiếp cận với con người bằng xương bằng thịt của Chúa nữa. Nhưng với Thân Thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội, chúng ta đuợc liên kết với Người như Lời Người đã phán với chúng ta trong bài Tin mừng: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 20b)

Mặc dầu các dấu chỉ biểu lộ uy quyền của Thiên Chúa có thể thay đổi so với các việc làm của các tín hữu thuộc các công đoàn sơ khai; nhưng nguồn gốc và sức mạnh vẫn xuất phát từ Chúa. Người vẫn hoạt động thông qua những kẻ đi theo Người. Người về trời ngự bên hữu Thiên Chúa không phải để đuợc tôn vinh mà thôi, nhưng còn tiếp tục làm việc nơi các môn đệ qua quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, đó chính là sức mạnh của Thánh Linh như Chúa đã hứa “các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong tất cả xứ Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a, và cho đến tận cùng trái đất”. Với sức mạnh của Chúa Thánh Linh, các Tông Đồ và nhóm môn đệ mọi thời đã hoàn tất sứ mạng của họ.

Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Thực hiện lịnh truyền của Chúa trước khi Người về trời, đó là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Có nghĩa là:

Sống trong một thế giới đầy tranh chấp và bạo lực, chúng ta đuợc mời gọi trở nên sứ giả của hoà bình.

Sống trong một tập thể mà người ta tìm cách loại bỏ nhau vì ghen ghét, đố kỵ và thù hằn thì chúng ta lại đuợc mời gọi sống yêu thương, tương tác và liên đới với nhau.

Đối diện với một cộng đoàn chỉ biết tham lam và tranh dành địa vị thì chúng ta lại được mời gọi sống bác ái và khiêm nhường trong việc phục vụ.

Tất cả đều là dấu chỉ nói lên lời mời gọi của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng đã về trời để tiếp tục hiện diện và hoạt động trong cộng đoàn của các kẻ tin.

Vì thế, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện hôm nay là sống thế nào trong vai trò chứng nhân về sự hiện diện của Chúa? Đó cũng là thử thách mà Tin mừng đề ra cho các tín hữu tại Ga-li-lê-a khi xưa và cho chúng ta hôm nay “Hỡi những người Ga-li-lê-a, sao còn đứng đó nhìn trời.” Có nghĩa là tại sao chúng ta vẫn còn ngồi đó mà tiếc nuối quá khứ! Sao cứ khư khư ôm lấy vinh quang mà không dám trở về với cuộc sống hiện tại để chu toàn phận sự đã được trao phó?

Khi thi hành nhiệm vụ mà Chúa trao phó hôm nay, chúng ta ý thức rằng mình không tự làm; nhưng sứ mạng được trao ban từ Chúa; Người là vị cứu tinh nhân hậu, đang hiện diện và đồng hành với chúng ta.

Chúng ta nương tựa vào Chúa.

Chúng ta gắn bó và nối kết mật thiết với Người.

Chúng ta không ngồi đó chờ Người làm thay các việc mà chúng ta cần làm.

Chúng ta sẽ không yêu cầu Chúa đến để thay đổi những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta.

Thay vào đó, trong niềm tin, chúng ta biết chắc Người đang đồng hành, soi sáng và mở mắt để chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trong các sự kiện đang xảy ra. Thiên Chúa đã không rời bỏ chúng ta nhưng hiện diện trong những gì đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta ngay bây giờ và mãi mãi.

Như vậy, Chúa đã đi đâu là việc của Chúa! Việc của chúng ta phải làm là thực hiện lịnh truyền mà Chúa phán trước khi Người được cất nhắc về trời, đó là: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”, và nhờ việc làm của anh em mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Người. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HÃY ĐI RAO GIẢNG CHO MUÔN DÂN

Sau khi sống lại từ cõi chết và trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các môn đệ của Ngài — trong đó có bạn và tôi — một sứ mạng vô cùng quan trọng nhưng cũng đầy thách đố:

“Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (x. Lc 24,47)

Vâng, theo lệnh truyền ấy, các Tông đồ và các môn đệ đã không ngừng loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Phục Sinh trong mọi hoàn cảnh, ở mọi nơi và mọi lúc. Việc rao giảng của các ngài không chỉ dừng lại ở lời nói, mà còn được thể hiện sống động qua đời sống chứng tá: bằng hành động, cử chỉ và thái độ đầy sức thuyết phục.

Thật vậy, sách Công vụ Tông đồ kể lại rằng các ngài đã sống bác ái, chia sẻ với những người túng thiếu và bất hạnh. Khi nạn đói xảy ra dưới thời hoàng đế Claudio, các môn đệ quyết định: mỗi người tùy theo khả năng mà gửi quà giúp đỡ anh em miền Giuđê qua tay ông Banaba và ông Saolô (x. Cv 11,29-30).

Các ngài cũng noi gương Chúa Giêsu sống tha thứ, ngay cả với những kẻ bách hại mình. Khi bị ném đá, thánh Têphanô đã quỳ gối và kêu lớn tiếng:

“Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” (Cv 7,60)

Nói thế rồi, ông an nghỉ trong Chúa.

Không những thế, các Tông đồ còn sống vui tươi, lạc quan và kiên vững giữa thử thách. Sách Công vụ ghi lại:

“Các ông ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu.” (x. Cv 5,41)

Bạn thân mến, để tiếp tục sứ mạng cao quý ấy, bạn và tôi cũng được mời gọi noi gương các ngài.

Thứ nhất: sống bác ái

Xin hãy rộng rãi và quảng đại nâng đỡ Giáo hội, các dòng tu và các hoạt động truyền giáo qua việc xây dựng và duy trì những cơ sở phục vụ con người như:

  • bệnh viện,

  • trường học,

  • trại mồ côi,

  • trung tâm bác ái.

Chính nơi đó, Tin Mừng được gieo vãi một cách cụ thể và sống động.

Tiền bạc, nếu được sử dụng đúng, sẽ trở thành phương tiện hữu hiệu cho công cuộc truyền giáo. Bạn là người làm chủ của nó; hãy sai nó đi phục vụ Nước Chúa ngay từ hôm nay.

Thứ hai: sống tha thứ

Khi bạn và tôi biết bỏ qua lỗi lầm của người khác trong gia đình, trong cộng đoàn hay ngoài xã hội, là lúc chúng ta đang làm chứng cho Đức Kitô Phục Sinh — Đấng đã cầu xin:

“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34)

Thứ ba: sống vui tươi và lạc quan

Giữa những biến động của thế giới:

  • chiến tranh,

  • chia rẽ,

  • khủng hoảng kinh tế,

  • vật giá leo thang,

bạn và tôi được mời gọi sống niềm hy vọng; không than trách, không bi quan, nhưng tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa là Đấng quyền năng và yêu thương.

Chính trong những thử thách ấy, chúng ta được thanh luyện để sống khiêm nhường hơn và biết đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa.

Để có thể chu toàn sứ mạng rao giảng và làm chứng, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta hãy cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa. Bởi chính Chúa Giêsu đã nói:

“Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5)

Sức mạnh ấy đến từ đâu?

Thưa, sức mạnh ấy đến từ:

  • đời sống cầu nguyện,

  • Lời Chúa trong Kinh Thánh,

  • và các bí tích.

Khi chúng ta siêng năng cầu nguyện, chuyên chăm lắng nghe Lời Chúa, năng lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, sốt sắng tham dự Thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa, chúng ta sẽ nhận được những ân sủng cần thiết từ Thiên Chúa.

Nhờ đó, chúng ta mới có đủ sức trở thành những chứng nhân trung thành của Đức Kitô Phục Sinh.

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang, xin Chúa chúc lành, gìn giữ và ban bình an, sức khỏe cho bạn và gia đình.

Xin Ngài soi sáng để mỗi người chúng ta biết ý thức và nhiệt thành sống sứ mạng loan báo Tin Mừng qua đời sống:

  • bác ái,

  • tha thứ,

  • vui tươi,

  • lạc quan,

  • và niềm hy vọng không lay chuyển. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CHÚA LÊN TRỜI, CHÚNG TA LÊN ĐƯỜNG

Có những cuộc chia tay làm người ta hụt hẫng. Một người cha lên đường xa nhà, một người mẹ tiễn con vào đời, một người thân nhắm mắt lìa đời… Tâm hồn con người thường sợ mất mát và xa cách. Vì thế, khi nghe nói đến biến cố Chúa Giêsu “lên trời”, nhiều người dễ nghĩ rằng Ngài đã rời bỏ nhân loại. Nhưng Tin Mừng Lễ Thăng Thiên lại cho thấy điều ngược lại: Chúa Giêsu ra đi để hiện diện gần hơn, sâu sắc hơn và mạnh mẽ hơn trong cuộc đời chúng ta.

1. Chúa lên trời là khởi đầu của một sự hiện diện mới

Tin Mừng theo thánh Matthêu Tông đồ kết thúc bằng lời hứa an ủi của Chúa Phục Sinh: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chính lúc “ra đi”, Chúa lại khẳng định Ngài vẫn ở cùng chúng ta. Điều đó cho thấy Thăng Thiên không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu của một sự hiện diện mới qua Chúa Thánh Thần, qua Lời Chúa, qua các Bí tích và Hội Thánh.

Sách Công vụ kể rằng trước khi lên trời, Chúa Giêsu nói: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần… và sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Chúa không để các môn đệ cô độc, nhưng ban cho họ sức mạnh thiêng liêng để tiếp tục sứ mạng.

Năng lượng mặt trời có thể là một hình ảnh dễ hiểu. Mặt trời là nguồn năng lượng không bao giờ cạn kiệt, luôn chiếu sáng và nuôi dưỡng sự sống. Cũng thế, Chúa Thánh Thần là nguồn năng lượng thiêng liêng của người Kitô hữu. Không có Chúa Thánh Thần, đời sống đức tin sẽ khô cứng, mệt mỏi và dễ thất vọng. Nhưng khi để Chúa Thánh Thần hoạt động, con người trở nên mạnh mẽ, quảng đại và đầy hy vọng.

Đó là điều đã xảy ra nơi các tông đồ. Trước biến cố Phục Sinh và Thăng Thiên, họ sợ hãi, đóng kín cửa, thậm chí bỏ chạy. Phêrô đã chối Thầy ba lần. Thế nhưng sau khi nhận lãnh Thánh Thần, họ trở thành những chứng nhân can đảm, dám hiến mạng sống cho Tin Mừng. Chính sự hiện diện của Chúa Giêsu, một cách mới mẻ qua Chúa Thánh Thần, đã biến đổi các tông đồ.

Thánh Augustinô đã viết một câu rất đẹp: “Người đã lên trời, nhưng vẫn không rời bỏ chúng ta” (Sermon 263). Chúa Kitô ở bên hữu Chúa Cha nhưng vẫn hiện diện trong Thánh lễ, trong lời cầu nguyện và những hy sinh âm thầm của người tín hữu. Ngài cũng hiện diện nơi những người nghèo khổ, đau bệnh và bị bỏ rơi.

Lễ Thăng Thiên cũng cho chúng ta thấy phẩm giá cao quý của con người. Trong Chùa Giêsu, nhân tính được đưa vào chính sự sống của Thiên Chúa. Không chỉ linh hồn, nhưng chính thân xác phục sinh của Chúa Kitô được tôn vinh. Điều đó có nghĩa là cuộc đời con người không phải là một hành trình vô nghĩa kết thúc trong hư vô, vì chúng ta được dựng nên cho cõi trời cao vĩnh cửu.

Thánh Phaolô cầu nguyện: “Xin Người soi sáng con mắt tâm hồn anh em, để anh em thấy đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được” (Ep 1,18). Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không bị nhấn chìm bởi tuyệt vọng, không kết thúc tan nát trong nấm mồ, nhưng đích điểm cuối cùng là vinh quang phục sinh.

2. Giáo Hội sinh ra để loan báo Tin Mừng

Lời cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Thăng Thiên không phải là một lời than thở, cũng không phải là một lời trách móc, nhưng là một lệnh truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

“Hãy đi”, đó là nhịp đập con tim của Giáo Hội. Đức tin Kitô giáo không phải là một kho báu để khóa kín trong nhà thờ hay trong trái tim cá nhân. Đức tin luôn thúc đẩy con người bước ra, gặp gỡ và chia sẻ. Một Kitô hữu chỉ sống cho riêng mình sẽ dần đánh mất sức sống Tin Mừng.

Khi danh họa Leonardo da Vinci đang thực hiện một bức tranh lớn, ông bất ngờ dừng lại và giao cho học trò hoàn thành phần còn lại. Người học trò run sợ vì cảm thấy mình không xứng đáng. Nhưng da Vinci nói: “Điều thầy đã làm chẳng đủ để truyền cảm hứng cho con sao?” Đó cũng là điều Chúa Giêsu làm với chúng ta. Ngài đã bắt đầu công trình cứu độ bằng cuộc đời, lời giảng dạy, tình yêu và thập giá của Ngài. Rồi Ngài trao phần còn lại cho các môn đệ tiếp tục. Chúng ta là những người được mời gọi “hoàn thành bức tranh”.

Một câu chuyện khác kể rằng sau khi Chúa Giêsu về trời, các thiên thần hỏi: “Ai sẽ tiếp tục công việc của Chúa dưới đất?” Chúa trả lời: “Những người theo Ta.” Các thiên thần ngạc nhiên: “Cả những người đã bỏ chạy và chối bỏ Chúa sao?” Chúa đáp: “Ta không có kế hoạch nào khác.” Câu trả lời ấy vừa khiến người ta xúc động vừa nhắc nhớ trách nhiệm lớn lao của người môn đệ. Chúa đặt niềm tin nơi những con người yếu đuối như chúng ta. Giáo Hội tồn tại suốt hai ngàn năm không nhờ sức mạnh nhân loại, nhưng vì Chúa vẫn hoạt động qua những con người bất toàn.

Loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời nói. Phaolô VI từng nói: “Con người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy” (Evangelii Nuntiandi, số 41). Người ta có thể quên một bài giảng, nhưng khó quên một đời sống yêu thương chân thành: một người mẹ hy sinh cho con, một người trẻ sống trung thực, một linh mục âm thầm thăm bệnh nhân, hay một người nghèo vẫn giữ lòng tin nơi Chúa. Đó là những chứng tá Tin Mừng sống động.

Có một phụ nữ nói với nhà truyền giáo rằng bà muốn rao giảng Tin Mừng nhưng phải chăm sóc mười hai người con. Ông đáp: “Chúa đã ban cho bà một cánh đồng truyền giáo ngay trong nhà.” Thật vậy, gia đình và những tương quan hằng ngày luôn là nơi đầu tiên để sống sứ mạng Kitô hữu. Không chỉ linh mục hay tu sĩ, mọi Kitô hữu đều được mời gọi làm chứng cho Chúa từ ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Nhiều khi một nụ cười cảm thông, một lời tha thứ hay một việc bác ái âm thầm còn chạm đến lòng người hơn cả những bài diễn thuyết dài.

3. Chúa Thăng Thiên trao cho chúng ta một sứ mạng và một niềm hy vọng

Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ “trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ” (Lc 24,52). Điều này thật khác thường. Thông thường chia tay sẽ buồn bã, nhưng các ông lại vui mừng. Vì sao? Vì họ hiểu rằng Chúa không bỏ họ mồ côi. Ngài đang mở ra một tương lai mới.

Lễ Thăng Thiên nhắc chúng ta rằng cuộc đời không khép lại ở những thất bại, đau khổ hay cái chết. Đích điểm cuối cùng là được hiệp thông với Thiên Chúa. Có người hỏi một thanh niên:

– Sau khi học xong, bạn muốn làm gì? – Tôi muốn có việc làm.

– Rồi sao nữa? – Tôi muốn kiếm nhiều tiền.

– Rồi sao nữa? – Tôi muốn xây nhà, lập gia đình, nghỉ hưu…

– Và sau đó? Người thanh niên im lặng.

Con người hôm nay thường biết mình muốn gì trong tương lai gần, nhưng lại quên câu hỏi quan trọng nhất: “Tôi sống để làm gì?” Lễ Thăng Thiên nâng ánh mắt chúng ta vượt lên những lo toan thường ngày, không phải để trốn đời nhưng để sống với một hướng đi rõ ràng. Người có hy vọng sẽ không dễ gục ngã trước thử thách. Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Không gì mạnh hơn một người đặt hy vọng nơi Thiên Chúa.” Chính niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ biết bao Kitô hữu giữa đau khổ và thử thách.

Trong những năm dịch bệnh, người ta đã thấy nhiều hình ảnh đẹp: các nữ tu chăm sóc bệnh nhân, các linh mục mang Mình Thánh Chúa vào khu cách ly, những người trẻ chia sẻ thực phẩm cho người nghèo. Họ phục vụ không vì danh tiếng, nhưng vì tin rằng Chúa hiện diện nơi những con người đau khổ.

Đó là sức mạnh của Chúa Thăng Thiên đang hoạt động giữa trần gian. Thánh Augustinô viết: “Khi Người ở trên trời, Người vẫn ở với chúng ta.” (Sermon 263). Người Kitô hữu sống giữa đời nhưng trái tim hướng về quê trời, nên càng biết yêu thương hơn. Lễ Thăng Thiên cũng nhắc rằng Chúa Giêsu luôn cầu bầu cho chúng ta: Ngài “hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7,25). Vì thế, giữa những lúc đức tin lung lay hay tương lai mù mịt, chúng ta vẫn có thể hy vọng, vì Chúa Kitô đang dẫn lịch sử và cuộc đời chúng ta đến một kết thúc tốt đẹp hơn ta tưởng.

4. Hoàn thành công trình Chúa để lại

Nhạc sĩ Ý Giacomo Puccini đã qua đời khi đang viết dở vở opera nổi tiếng Turandot. Trước lúc mất, ông dặn các học trò hãy hoàn thành tác phẩm. Trong buổi công diễn đầu tiên, nhạc trưởng Toscanini, học trò của Puccini, dừng lại ở đoạn cuối cùng mà  Puccini ngưng viết, quay xuống khán giả và nói trong nước mắt: “Thầy của chúng tôi  đã ngừng viết ở đây và đã qua đời.” Rồi ông cầm đũa chỉ huy lên và nói tiếp: “Nhưng các học trò của thầy đã hoàn thành công việc của thầy.”

Đó là hình ảnh đẹp cho sứ mạng của Hội Thánh sau biến cố Thăng Thiên. Chúa Giêsu đã hoàn tất công trình cứu độ, nhưng Ngài muốn chúng ta tiếp tục đem tình yêu và ơn cứu độ ấy đến cho thế giới. Ngài muốn đôi tay chúng ta biết chữa lành, đôi chân chúng ta biết tìm kiếm người lạc lối, và trái tim chúng ta biết yêu thương như Ngài đã yêu. Nhiều người nghĩ phục vụ Chúa là làm việc lớn lao, nhưng Tin Mừng thường được xây dựng từ những điều nhỏ bé: một lời an ủi, một hy sinh âm thầm, một cử chỉ tha thứ. Têrêsa Calcutta từng nói: “Ai cũng có thể làm việc nhỏ với tình yêu lớn.” Chính những điều nhỏ bé ấy làm cho Chúa Kitô tiếp tục hiện diện giữa đời.

Trong một thế giới đầy ích kỷ và chia rẽ, con người cần những chứng nhân của hy vọng. Không phải những Kitô hữu hoàn hảo, nhưng là những người biết đứng dậy sau vấp ngã và trung thành giữa đổi thay. Lễ Thăng Thiên không mời gọi chúng ta “đứng nhìn trời”, nhưng thúc giục lên đường: “Sao còn đứng nhìn trời?” (Cv 1,11). Đức tin thật luôn dẫn đến hành động.

Chúa đã lên trời, nhưng công việc loan báo Tin Mừng vẫn tiếp tục qua mỗi chúng ta. Dù yếu đuối và giới hạn, chúng ta vẫn được Chúa trao sứ mạng của Ngài. Vì thế, Lễ Thăng Thiên là lễ của hy vọng và lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Và một ngày kia, chúng ta cũng sẽ được ở với Ngài, nơi Ngài đang ở. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

CHÚA KHÔNG RỜI KHỎI "ÔLIU" CỦA ĐỜI NGƯỜI

Đời thường, không ít lần, ta chứng kiến những cuộc chia tay. Người mẹ đứng trước cổng nhà nhìn con đi làm xa, cho đến khi chiếc xe khuất hẳn mới quay vào. Người cha tiễn con giữa ngã đường mà lòng nặng như đá đeo. Một cụ già tựa cửa mỗi chiều, nhìn khoảng sân vắng, nhớ những ngày nhà còn đông đủ.

Mỗi cuộc chia tay đều để lại những khoảng trống lớn trong lòng người. Nó khiến người ở lại lẫn người ra đi đều xao xuyến, đều cảm nhận mất mát. Các môn đệ ngày Chúa Thăng Thiên cũng như thế.

Tin Mừng kể rằng, sau khi Chúa được cất lên, các ông vẫn đứng nhìn trời. Bao năm theo Thầy, bao ngày được sống bên Thầy, bao lần yếu đuối được Thầy nâng dậy… giờ đây như sắp khép lại.

Chính lúc ấy, thiên thần lên tiếng: "Sao còn đứng nhìn trời?". Lời hỏi nhẹ nhàng, tưởng như không giá trị, lại mở ra cả ý nghĩa của ngày lễ hôm nay. 

Bởi lễ Thăng Thiên không phải là ngày Chúa rời bỏ thế gian. Nếu hiểu như vậy, thì từ hôm nay, con người chỉ còn biết ngước mắt lên trời cao mà nhớ về một Đấng đã xa. Không. Chúa lên trời không phải để xa con người, nhưng để ở gần con người hơn theo một cách khác.

Ngày xưa, người ta gặp Chúa bằng đôi mắt. Còn từ ngày Thăng Thiên, người ta gặp Chúa bằng đức tin. Ngày xưa, Chúa chỉ hiện diện ở một nơi. Còn bây giờ, Chúa có thể ở trong mọi nơi của đời người.

Từ ngày Chúa Thăng Thiên, trời và đất không còn xa nhau. Và Núi Ôliu của sách Công vụ (Chúa về trời từ Núi Ôliu) hay Núi Galilê trong Tin Mừng Matthêu (Chúa về trời từ Núi Galilê) như biểu tượng của sự gần gũi ấy. 

I. CHÚA KHÔNG RỜI KHỎI "ÔLIU" CỦA ĐỜI NGƯỜI.

Núi Ôliu là nơi đầy bóng tối trong cuộc đời Chúa Giêsu. Chính nơi ấy: Chúa từng cô đơn đến quặn lòng, từng cầu nguyện trong hấp hối, từng đổ mồ hôi máu, từng bị phản bội bằng một nụ hôn, và bắt đầu bước vào cuộc thương khó. Núi Ôliu là nơi của nước mắt. Và thật lạ lùng, cũng chính từ nơi ấy, Chúa được cất lên trời.

Điều đó nói với chúng ta một ý nghĩa đẹp: Thiên Chúa không đứng ngoài những đau đớn của phận người. Chúa không vô cảm trước nỗi khổ của con người. Chúa đã bước vào đó. Đã mang lấy và đã đau trong đó.

Từ "Ôliu" của Chúa Giêsu, chúng ta cũng nhận ra "Ôliu" cho riêng mình. Có người mang "Ôliu" là bệnh tật kéo dài. Có người mang "Ôliu" là nỗi lo cơm áo không lúc nào nguôi. Có người mang "Ôliu" là tuổi già cô độc. Có người mang "Ôliu" là những đứa con làm cha mẹ đau lòng. Có người mang "Ôliu" là một vết thương cũ không biết nói cùng ai.

Có những đêm mình cầu nguyện mà lòng vẫn nặng. Có những lúc đi lễ, đọc kinh, nhưng nước mắt vẫn muốn chảy xuống. Có những lúc con người cảm thấy Chúa im lặng đến đau lòng.

Nhưng lễ Thăng Thiên hôm nay nhắc chúng ta: Chúa không bao giờ rời khỏi "Ôliu" của đời người. Chúa ở đó: Ở giữa những tiếng thở dài, giữa những đêm không ngủ, giữa những giọt nước mắt lau vội trong âm thầm, giữa những nỗi đau mà người khác không thể hiểu được.

Nếu có lúc chúng ta tưởng Chúa xa, thì cây thập giá vẫn còn đó như câu trả lời lớn nhất. Chúa đã yêu con người đến tận cùng.

II. CHÚA VẪN Ở TRONG GALILÊ CỦA LÒNG NGƯỜI.

Nhưng Tin Mừng không dừng ở Núi Ôliu. Tin Mừng Matthêu đưa các môn đệ trở về Galilê. Galilê không phải nơi huy hoàng. Đó là miền quê của chài lưới, ruộng đồng, bụi đường và những con người bình thường. Nhưng chính nơi ấy, Chúa đã từng gọi các môn đệ, đã đi bên họ, đã ăn uống với họ, đã chữa lành, đã gieo vào lòng họ những ngày đầu tiên của ơn gọi. 

Và sau phục sinh, Chúa lại hẹn gặp họ ở Galilê. Như thể Chúa muốn nói: "Đừng chỉ đứng nhìn trời. Hãy trở về cuộc sống thường ngày. Vì Thầy vẫn đang ở đó".

Từ "Galilê" của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra "Galilê" của lòng mình. Đó có thể là căn nhà nhỏ của mình, là giáo xứ nghèo mà mình gắn bó từ nhỏ, là cánh đồng đầy nắng gió, là mái chợ quê, là những con người bình dị vẫn sống quanh mình mỗi ngày.

Chúa vẫn hiện diện ở đó. Chúa không chỉ ở trong những điều lớn lao. Chúa ở trong người mẹ âm thầm lần chuỗi mỗi tối. Ở trong người cha lam lũ nhưng vẫn sống ngay lành. Ở trong một cụ già đau yếu mà lòng vẫn cậy trông. Ở trong một người nghèo mà vẫn biết sẻ chia. Ở trong một bàn tay biết nắm lấy bàn tay khác giữa lúc cuộc đời quá nhiều lạnh giá.

Biết bao nhiêu người, dù không bao giờ nói được điều gì lớn lao về Chúa. Nhưng họ sống hiền lành, kông bỏ lễ, không bỏ kinh, không bỏ lòng tốt... 

Có thể họ nghèo chữ, nhưng lại giàu Chúa. Chính họ, chứ không kẻ cao sang nào, làm cho người khác nhận ra: Chúa vẫn đang sống giữa cuộc đời này.

III. TỪ NGÀY THĂNG THIÊN, TRỜI VÀ ĐẤT GẶP NHAU TRONG TIM.

Lễ Thăng Thiên không kéo con người rời khỏi mặt đất. Ngược lại, Chúa sai các môn đệ trở về với mặt đất, với con người, với cuộc đời. "Sao còn đứng nhìn trời?". Đừng chỉ đứng đó mà tiếc nuối một sự hiện diện đã qua. Đừng chỉ mong một phép lạ từ trời rơi xuống.

Hãy trở về với cuộc sống của mình. Hãy yêu thương nhau. Hãy sống tử tế. Hãy làm cho Chúa hiện diện bằng chính đời sống của mình.

Trong chúng ta, nhiều người không bao gờ đi xa khỏi xóm làng, nhưng cả đời họ vẫn là chứng nhân của Chúa. Chẳng hạn, người mẹ giữ được ngọn lửa đức tin trong gia đình. Người cha sống công chính giữa bao cám dỗ. Một ai đó biết nhịn nhục để giữ bình an cho mái nhà. Hay những anh chị em dù đau khổ vẫn không đánh mất lòng tin. Tất cả họ đang làm cho trời chạm vào đất.

Từ ngày Chúa Thăng Thiên, có một điều thật đẹp: Chúa không còn ở trước mắt các môn đệ nữa, để có thể ở trong lòng mọi người. Bởi vậy, người Kitô hữu không sống bằng việc chỉ ngước nhìn trời cao, nhưng bằng việc nhận ra Chúa đang bước cùng mình giữa cuộc đời.

Chúa vẫn ở trong "Galilê" của lòng người: Nơi những vết thương cần được chữa lành, những mỏi mệt cần được nâng đỡ, những trái tim cần được yêu thương, những con người bé nhỏ cần được chở che và hy vọng. 

Có thể hôm nay, nơi tâm hồn mỗi chúng ta vẫn còn đó một "Ôliu" chưa đi qua. Vẫn phải chịu đựng nỗi đau âm thầm chưa ai hiểu. Vẫn còn những đêm rất dài và những lời cầu nguyện nghẹn lại.

Nhưng xin đừng sợ. Chúa không rời khỏi "Ôliu" của đời người. Chúa mãi là "Galilê" của lòng người. Chúa sẽ là nơi chữa lành. Nơi gặp gỡ. Nơi nâng đỡ. Nơi con người tìm lại bình an sau những thương đau của cuộc sống.

Từ ngày Chúa Thăng Thiên, trời không còn là nơi xa đất. Vì bất cứ nơi nào còn có lòng tin, còn có yêu thương, còn có một con người âm thầm sống tốt giữa cuộc đời này, thì ở đó, Chúa vẫn đang hiện diện. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan