SUY NIỆM CHÚA NHẬT 11 TN_A
[Xh 19,2-6a; Rm 5,6-11; Mt 9,36 – 10,8]
THIÊN CHÚA LÀ NIỀM TỰ HÀO – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
CHÚA CHỌN GỌI CHÚNG TA – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
GIAO ƯỚC TÌNH YÊU VÀ SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN – Jos. Vinc. Ngọc Biển
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA SAI TÔI ĐI! – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
KHI CHO ĐI LÀ ĐANG NHẬN LẠI – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
THIÊN CHÚA KHÔNG BAO GIỜ BỎ DỞ TÌNH YÊU CỦA NGÀI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Trong xã hội Việt Nam, người Công giáo chúng ta chỉ chiếm 8% tổng dân số hơn 100 triệu người. Giữa một xã hội đông đúc, Ki-tô hữu chỉ là thiểu số. Hơn nữa, trong thực tế vẫn tồn tại những thành kiến của anh chị em đồng bào đối với Giáo hội Công giáo, do cách hiểu không đúng về lịch sử. Chính vì vậy, nhiều khi chúng ta không dám nhận mình là Ki-tô, không chỉ trước một đám đông, mà còn trong một cơ quan, một bệnh viện hay một tập thể tổ chức mà mình là thành phần. Thậm chí trong một số trường hợp, việc xưng mình là người Công giáo có thể ảnh hưởng tới việc làm và vị thế xã hội. Ở phía Nam, tỷ lệ người Công giáo đông hơn phía Bắc, nên những thành kiến và e ngại cũng nhẹ nhàng hơn. Lời Chúa hôm nay khẳng định vinh dự và niềm tự hào của người tin vào Chúa. Thánh Phao-lô viết: nhờ Máu Đức Ki-tô đổ ra, chúng ta được ơn tha thứ. Chúng ta không còn là thù nghịch với Thiên Chúa, nhưng được hòa giải với Ngài. Hơn nữa, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào (Bài đọc II).
Niềm tự hào này cũng được khẳng định trong giáo huấn của Cựu ước. Thiên Chúa đã phán với dân Ít-ra-en qua ông Môi-sen: “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta” (Bài đọc I). Dân Ít-ra-en luôn tự hào với danh nghĩa “Dân riêng Thiên Chúa”, “Dân được tuyển lựa”. Thiên Chúa luôn tỏ tình ưu ái với dân của Ngài. Tâm tình này được diễn tả trong lời giáo huấn của các Thánh vịnh cũng như các ngôn sứ. “Si-on nói: ‘Đức Chúa đã bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi.’ Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình…? Cho dù nó có quên, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,14-15). Đó chỉ là một trong nhiều trích dẫn trong Cựu ước đến diễn tả tình thương mến của Thiên Chúa đối với Dân Ngài đã chọn.
Nhờ Bí tích Thanh tẩy, Ki-tô hữu được tháp nhập vào dân Ít-ra-en mới, tức là Giáo hội, và trở nên con cháu của Tổ phụ Áp-ra-ham trong đức tin. Vì Áp-ra-ham là cha của những người tin (x. Rm 4,11), nên những ai tin vào Thiên Chúa, thì thuộc dòng dõi của Ông. Niềm tự hào có Thiên Chúa là Cha không giống như một thương hiệu, cũng không phải là một “miễn tử kim bài” để che chắn cho chúng ta khỏi bị trừng phạt. Dân Ít-ra-en đã nhiều lần tự phụ và nghĩ rằng có Chúa lo liệu tất cả. Vì thế, có lần chính Hòm bia của Thiên Chúa cũng bị người Phi-li-tinh chiếm giữ (x. 1 Sm 4). Chúa Giê-su sau này khẳng định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời…” (Mt 7,21). Ki-tô hữu là một danh dự, nhưng người được mang danh ấy phải cố gắng thường xuyên để nên giống như Đức Ki-tô. Đức Ki-tô là mẫu mực của chúng ta. Người là “Con Người” theo nghĩa hoàn hảo nhất. Nên giống Chúa Ki-tô, đó là lý tưởng và đích điểm của người tín hữu.
“Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế, vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người” (1Pr 2, 9). Với những lời này, thánh Phê-rô diễn tả vinh dự cao quý của Ki-tô hữu. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được Chúa ban cho ba chức năng: chức năng Ngôn sứ (để rao giảng Lời Chúa); chức năng Tư tế (để thánh hóa bản thân và góp phần thánh hóa xã hội); chức năng Vương đế (để cộng tác xây dựng cộng đoàn Giáo hội địa phương, nơi mình đang sống). Những chức năng này vừa là danh dự, và vừa là trách nhiệm. Vì thế, niềm vinh dự và tự hào phải là động lực khuyến khích chúng ta sống theo giáo huấn của Chúa và của Giáo hội. Khi liên kết hiệp thông với anh chị em Ki-tô hữu, chúng ta diễn tả một Giáo hội thánh thiện, lạc quan và tràn đầy hy vọng vào tương lai. Thiên Chúa ở với chúng ta. Ngài luôn chúc lành cho chúng ta, qua Giáo hội mà Chúa Giê-su đã thiết lập.
“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Đó là lời dặn dò của Chúa Giê-su khi sai các ông đi truyền giáo (Bài Tin Mừng). Loan báo Tin Mừng (hay truyền giáo) không phải một dịch vụ, vì dịch vụ thì luôn nhằm tới thù lao và tiền bạc. Đối với các tín hữu sống ơn gọi giáo dân, loan báo Tin Mừng đơn giản chỉ là sống lời Chúa Giê-su đã dạy, với tình yêu thương và vui mừng trong gia đình, trong lối xóm và trong cộng đoàn. Chúa Giê-su đã nói: “Anh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt5,16). Trong bất cứ môi trường sống nào, Ki-tô hữu ý thức mình được Chúa Giê-su sai đi để làm chứng cho Người. Đó chính là ơn gọi thừa sai, và cũng là một niềm tự hào của Ki-tô hữu chúng ta.
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
CHÚA CHỌN GỌI DÂN ISRAEL, CÁC TÔNG ĐỒ, KẾ ĐẾN LÀ CHÚNG TA
Lời Chúa hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một chân lý nền tảng của đời sống Ki-tô hữu: Thiên Chúa chọn gọi ai đó không phải để người ấy được hưởng đặc ân, nhưng để họ thi hành sứ mạng.
Chúa chọn dân Ít-ra-en
Cụ thể như Dân Ít-ra-en trong sách Xuất hành 19,2-6a. Thiên Chúa nhắc họ nhớ lại tình yêu cứu độ của Người: “Ta đã mang các ngươi trên cánh phượng hoàng và đem các ngươi đến với Ta” (Xh 19,4). Hình ảnh cánh phượng hoàng diễn tả sự chở che đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Người không chỉ giải thoát dân khỏi cảnh nô lệ, mà còn dẫn họ đến một tương quan thân tình với chính Người.
Sau khi giải thoát dân khỏi Ai Cập, Thiên Chúa tuyển chọn họ làm “vương quốc tư tế, dân tộc hiến thánh” (Xh 19,4). Như vậy, việc tuyển chọn không phải là một vinh dự để tự hào, nhưng là một trách nhiệm để trở nên dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa giữa muôn dân. Lời này cũng được ứng nghiệm nơi các Tông đồ.
Chúa chọn gọi mười hai tông đồ và sai đi
Lời Chúa trong Tin Mừng Mt 9, 36 – 10, 8 cho thấy nguồn gốc sâu xa của mọi ơn gọi trong Giáo Hội: đó là trái tim đầy lòng thương xót của Chúa Giê-su. Thánh Mát-thêu kể rằng khi nhìn thấy đám đông dân chúng “tất tưởi bơ vơ như những con chiên không người chăn dắt”, Chúa đã “động lòng xót thương” (Mt 9, 36). Trong nguyên ngữ Hy Lạp, từ này diễn tả một sự rung động tận đáy lòng. Chính lòng thương xót ấy đã trở thành khởi điểm của sứ mạng cứu độ và của việc tuyển chọn các Tông đồ.
Điều đáng chú ý là trước khi sai các môn đệ đi, Chúa Giê-su bảo họ cầu nguyện: “Xin Chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa” (Mt 9, 38). Như thế, ơn gọi trước hết không phải là sáng kiến của con người, mà là hồng ân phát xuất từ Thiên Chúa. Các Tông đồ không tự chọn mình, nhưng được Chúa gọi đích danh giữa những con người rất khác nhau: ngư phủ, người thu thuế, người nhiệt thành, những người bình thường với nhiều giới hạn. Chính Chúa đã biến đổi họ thành những người cộng tác trong công trình cứu độ.
Sứ mạng Chúa trao cho các ông không chỉ là giảng dạy, nhưng còn là chữa lành, giải thoát và đem sự sống đến cho con người. Nói cách khác, các Tông đồ được sai đi để tiếp tục chính công việc của Chúa Giê-su. Điều họ nhận lãnh là ân ban nhưng không, nên họ cũng phải trao ban nhưng không.
Chúa chọn gọi chúng ta
Loan báo Tin Mừng là sứ mạng của Thiên Chúa, được Chúa Giê-su thi hành trước, rồi trao cho các Tông đồ và Giáo Hội. Chúng ta lấy làm vinh dự được cộng tác vào sứ mạng cao quý này.
Nhiệm vụ của mỗi chúng ta hơn bao giờ hết qua Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta cũng được Chúa gọi và sai đi. Không phải ai cũng được mời gọi làm linh mục hay tu sĩ, nhưng mọi người đều có một sứ mạng trong gia đình, giáo xứ và xã hội. Thế giới hôm nay vẫn còn biết bao “chiên lạc”, những người đau khổ, mất phương hướng và khát khao tình yêu Thiên Chúa.
Chúa vẫn đang nhìn nhân loại bằng ánh mắt xót thương như xưa. Người cũng đang tìm những tâm hồn sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Người. Một Giáo Hội sống động không phải là Giáo Hội chỉ biết giữ đức tin cho mình, nhưng là Giáo Hội gồm những môn đệ được quy tụ để rồi được sai đi, đem Tin Mừng, bình an và lòng thương xót của Chúa đến cho mọi người. Chúng ta hãy thưa với Chúa: Lạy Chúa, này con đây, xin sai con đi, và nhanh chân tiến bước đi loan báo Tin Mừng.
Xin cho mỗi người chúng ta biết ý thức rằng mình được Chúa yêu thương, được Chúa chọn gọi và được Chúa sai đi. Để ở bất cứ nơi đâu, chúng ta cũng trở thành chứng nhân sống động của Tin Mừng, góp phần đưa nhiều người đến gặp gỡ Đức Ki-tô, Đấng là niềm hy vọng của thế giới. Amen. mục lục
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
GIAO ƯỚC TÌNH YÊU VÀ SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN
Trong đời sống, một "giao ước" hay một cam kết thường được thiết lập để bảo đảm sự tin tưởng và quyền lợi giữa các bên đối tác. Thế nhưng, trong tương quan với Thiên Chúa, Giao ước không đơn thuần là một bản thỏa thuận hay một bản luật lệ khô khan. Đó là một sự tuyển chọn đầy trìu mến, nơi Thiên Chúa mở ra một chương trình cứu độ, mời gọi con người bước vào đời sống của chính Ngài. Chúa Nhật XI Thường Niên hôm nay đặt chúng ta vào tâm điểm của Giao ước ấy: nơi Thiên Chúa không chỉ tuyển chọn một dân tộc làm của riêng, mà còn ký thác cho họ sứ mạng làm cánh tay nối dài của Ngài giữa một thế giới đầy dẫy những đổ vỡ và lạc lối.
1. Nền tảng Kinh Thánh: Tuyển chọn trong yêu thương
Thiên Chúa khởi đầu mối tương quan với Israel bằng một sự giải phóng cụ thể. Trong sách Xuất Hành, Ngài phán: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Hình ảnh “cánh chim bằng” không chỉ là sự che chở, mà là sự bảo bọc tuyệt đối. Thiên Chúa không chọn Israel vì họ hùng mạnh, Ngài chọn họ để làm “vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,6). Đó là căn tính không thể lay chuyển của dân Chúa.
Đến thời Tân Ước, Giao ước ấy được kiện toàn nơi Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma khẳng định một sự thật đầy xác tín: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Đây chính là đỉnh cao của tình yêu Giao ước. Trong Tin Mừng Mátthêu hôm nay, Chúa Giêsu nhìn đám đông mà “chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Ngài không chỉ cảm thương, Ngài thực thi hành động cứu thế khi sai Nhóm Mười Hai đi truyền giáo: “Hãy đi đến với các chiên lạc nhà Israel. Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,6-7).
Thánh Gioan Kim Khẩu, trong bài giảng về Tin Mừng Mátthêu, đã lưu ý: “Chúa không sai các ông đến với những kẻ mạnh, nhưng đến với những kẻ lạc lối, vì chính nơi những người yếu đuối nhất mà quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện rõ nhất”. Giáo hội, trong Hiến chế Lumen Gentium (số 9), cũng xác quyết: “Thiên Chúa muốn thánh hóa và cứu độ con người không phải từng cá nhân đơn lẻ, mà bằng cách tập hợp họ thành một dân tộc duy nhất để phục vụ Ngài trong sự thật”.
2. Thực trạng: Sự đứt gãy của Giao ước giữa đời thường
Tại Việt Nam hôm nay, chúng ta thấy rõ những "chiên lạc" không chỉ là những người chưa biết Chúa, mà là chính những người xung quanh chúng ta, thậm chí là chính chúng ta. Đó là những người đang sống trong sự bất an của chủ nghĩa thực dụng. Khi tiền bạc trở thành thước đo giá trị, khi sự gian dối trở thành "kỹ năng" sống sót, người ta đã vô tình tự tách mình khỏi Giao ước của Thiên Chúa.
Sự đứt gãy của Giao ước xảy ra khi chúng ta chỉ biết đến Thiên Chúa trong nhà thờ, còn ngoài đời lại sống theo luật của thế gian. Chúng ta giữ Giao ước như một văn bản tôn giáo, mà quên mất rằng Lời Chúa đòi hỏi sự trung thực quyết liệt. Chúng ta nói về tình yêu, nhưng lại sống vô cảm trước sự đau khổ của người cộng sự, của nhân viên hay người hàng xóm. Chúng ta lãng quên lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em đã được cho không, thì hãy cho không như vậy” (Mt 10,8), bởi lẽ chúng ta luôn tính toán "được - mất" trong các mối quan hệ. Những vết nứt ấy không chỉ làm tổn thương tha nhân, mà còn làm cho hình ảnh của Chúa trở nên mờ nhạt, khiến người ngoại không còn nhận ra đâu là "dân thánh" của Chúa nữa.
3. Áp dụng: Thực thi sứ mạng làm "thợ gặt"
Lời Chúa hôm nay không dành cho những người đứng ngoài cuộc. Chúa Giêsu truyền cho chúng ta: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt đến làm việc” (Mt 9,37-38). Việc trở thành "thợ gặt" của Chúa đòi hỏi sự dấn thân thật sự.
• Sống tư tế trong lao động: Nếu bạn là người kinh doanh, sự trung thực trong sổ sách, chất lượng tử tế trong sản phẩm chính là lễ vật tư tế dâng lên Chúa. Đừng thỏa hiệp với các hành vi gian dối, vì đó là lúc bạn phá vỡ Giao ước với Thiên Chúa. Làm việc tử tế là cách bạn thờ phượng Chúa giữa thị trường.
• Chạnh lòng thương xót để chữa lành: Khi thấy đối tác, nhân viên hay người thân gặp sai lầm, hãy học lấy ánh mắt của Chúa Giêsu. Đừng vội phán xét bằng cái tôi, hãy "chạnh lòng thương" để chữa lành. Đó là cách bạn mang sự sống của Chúa vào những nơi đang có sự đổ vỡ.
• Dấn thân không đợi chờ: Công đồng Vatican II trong Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem (số 13) khẳng định: “Người giáo dân phải làm cho đời sống mình trở thành dấu chỉ chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa trần gian”. Bạn không cần làm điều vĩ đại, bạn chỉ cần giữ lời hứa khi làm ăn, tử tế khi đối diện với sự hung hăng, và điềm tĩnh khi đối diện với khó khăn. Đó là cách bạn thực thi Giao ước mới trong môi trường Việt Nam đầy thử thách.
Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con làm dân thánh, xin cho chúng con không chỉ biết lãnh nhận Giao ước, mà còn biết sống trung tín với Giao ước ấy trong từng công việc hàng ngày. Xin cho cuộc đời chúng con trở thành bài giảng sống động, làm chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen. mục lục
Jos. Vinc. Ngọc Biển
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA SAI TÔI ĐI!
Sau khi hân hoan mừng các ngày Đại Lễ trong Mùa Phục Sinh và các ngày lễ Trọng như Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Lễ Thánh Tâm. Tuần này, phụng vụ Hội Thánh mời gọi chúng ta quay trở về với phụng vụ của Mùa Thường Niên, và chủ đề của Chúa nhật tuần này là ơn gọi. Một cách nào đó, Hội Thánh mời gọi chúng ta ra đi, trở về cuộc sống đời thường để chu toàn bổn phận của người môn đệ.
Thật vậy, xuất phát từ lòng thương xót của Chúa mà chúng ta đã thấm nhuần từ các mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa sẽ là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta ra đi để thể hiện lòng thương xót của Chúa cho người khác. Họ đang khao khát đón nhận điều mà chúng ta đã được trao ban.
Vì thế trong bài Tin Mừng, Thánh sử bắt đầu mô tả hoàn cảnh của những người theo Chúa. Khuôn mặt họ bộc lộ sự mệt nhọc, những bước chân lê thê, mệt mỏi của họ đã đánh động Lòng thương xót của Chúa. Tâm hồn Chúa bị rung động một cách mãnh liệt. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi họ. Với tấm lòng của người Cha, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không thể để họ bơ vơ, cho nên Chúa đã động lòng thương. Từ lòng thương xót ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.
Cánh đồng truyền giáo luôn rộng lớn. Nhu cầu rất khẩn thiết. Nhìn vào hiện tình của thế giới hôm nay, chung quanh chúng ta còn bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao gia đình đang đối diện với những nguy cơ khiến cho gia đình của họ có thể bị tan vỡ, biết bao người trẻ mất niềm tin và lạc hướng, biết bao người nghèo khổ, sống bơ vơ cần được yêu thương.
Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý, đó là sau khi nói các môn đệ xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về thì chính Chúa lại sai họ đi. Có nghĩa là chúng ta không chỉ cầu nguyện cho sứ vụ mà phải sẵn sàng trở thành người được sai đi nữa. Mỗi Kitô hữu đều có sứ mạng mở mang Nước Chúa, không nhất thiết bằng những bài giảng hùng hồn, nhưng bằng đời sống chứng tá, bằng phục vụ, lòng bác ái và niềm vui của Tin Mừng.
Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa còn nói thêm rằng: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Và như anh chị em còn nhớ. Đức tin là một hồng ân nhưng không. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không phải là phần thưởng vì công nghiệp, nhưng là quà tặng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình một cách quảng đại và chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã lãnh nhận.
Vì thế, thưa anh chị em.
Theo truyền thống, ơn gọi được hiểu là ơn gọi trở thành linh mục hay tu sĩ. Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa hạn hẹp này thì cũng phải chấp nhận rằng hiện có một cuộc khủng hoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nhiều quốc gia thuộc thế giới Tây Phương, rất ít người xin vào các chủng viện hoặc tu viện. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa, nhiều sinh hoạt của các giáo xứ bị gom chung lại với nhau vì thiếu linh mục.
Tại Việt Nam và một số nước thuộc thế giới thứ ba, các chủng viện đầy ắp chủng sinh và có nhiều nhà dòng mới được hình thành. Thoáng nhìn thì chúng ta có cảm tưởng tại các nước đó, Giáo Hội không phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thiếu ơn gọi.
Nếu chúng ta nhìn cuộc khủng hoảng ơn gọi từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi đó là một cơ hội để nhìn ra quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh từ buổi sơ khai. Ngày nay, có thể lấy mốc điểm từ khi có Công đồng Vat II, hàng giáo sĩ đã chia sẻ nhiệm vụ và trách nhiệm với giáo dân.
Chúng ta thấy nhiều giáo dân đóng vai trò là Thầy sáu vĩnh viễn, Thừa tác viên Thánh Thể, Thừa tác viên Lời Chúa. Họ giúp các linh mục quản xứ trong việc phục vụ cộng đoàn, lại có một số người dấn thân toàn thời gian trong các hoạt động tông đồ của Giáo Hội cấp giáo xứ và địa phận. Cánh cửa phục vụ được mở ra để mời gọi mọi thành phần dân Chúa tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội và đó là cơ hội để mọi người chu toàn ơn gọi từ Chúa.
Chúa Giê-su kêu gọi các Tông Đồ và mỗi người chúng ta hãy ở với Người và ra đi. Phần đầu tiên là được ở với Người và ở trong Người. Nếu chúng ta không ở với Người thì việc chúng ta ra đi có thể phát xuất từ những lý do rất ích kỷ. Thảm họa thay cho một cộng đoàn nếu những người tham gia vào các sinh hoạt của Hội Thánh chỉ vì thích quyền bính.
Nói chung, chúng ta đóng những vai trò khác nhau trong Hội Thánh. Nhưng ơn gọi nên Thánh là lời mời gọi chung cho mọi tầng lớp. Chúng ta được mời để ở với Chúa rồi sau đó sống theo ý Người muốn chúng ta sống. Đó chính là điều Thánh Phao-lô, tông đồ dậy bảo tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ... Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả… Đó là đức mến, lòng thương xót (1 Cr 12,28 – 13,13). Và đó là nền tảng của mọi ơn gọi.
Anh chị em thân mến,
Nhìn lại lịch sử giáo hội, chúng ta thấy rất nhiều gương sáng của những người đã được Chúa sai đi. Họ được sai bởi Chúa và theo gương Chúa họ sẵn sàng hy sinh tất cả, từ bỏ chốn an nhàn ra đi phục vụ những người nghèo khó. Và một trong những người được Chúa đánh động để đến với dân nghèo. Đó là Cha Thánh An Phong.
Mời anh chị em cùng ôn lại gương sáng của Cha Thánh, nhất là sức mạnh của Chúa hoạt động trong Ngài.
Trước khi sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, Cha Thánh An-phong là một linh mục triều, đã dấn thân phục vụ tại các giáo xứ. Với lòng hăng say và nhiệt thành, ngài đã miệt mài trong các công tác mục vụ khiến ngài bị kiệt sức. Vì thế, theo lời đề nghị của bác sĩ thì ngài nên đi nghỉ và dưỡng sức. Ngài đã chọn Scala, thuộc xứ Naples. Scala nằm trên một ngọn núi hướng ra mặt biển, không khí thật trong lành. Quả là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi.
Tuy nhiên, phong cảnh trữ tình và không khí trong lành của Scala cũng không quyến rũ được ngài. Vừa đến nơi, Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại Scala là những người bơ vơ, không ai đoái hoài, không ai quan tâm và chăm sóc cho họ, cho nên Ngài và các bạn lập tức mở lớp giáo lý buổi tối tại tư gia để dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng ngài, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy.
Tuy Thánh An Phong được sinh ra trong một gia đình quý tộc, giầu sang và quyền thế. Nhưng tâm hồn của ngài đã gắn liền với những người nghèo, con người bơ vơ, bị bỏ rơi. Vì thế, trông thấy họ, ngài chạnh lòng thương vì họ như những con chiên bị tan tác và không được chăm sóc. Với cảm nghiệm như thế, ngài nhận ra con đường Chúa muốn ngài phải đi, nên đã cùng với các bạn cùng chí hướng ngồi lại với nhau để sáng lập một nhà dòng mà ngày nay chúng ta gọi là Dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, bơ vơ không nơi nương tựa, những người nghèo khó.
Noi gương Chúa và được tác động bởi Lòng Thương Xót của Đức Chúa chúng ta đừng để ai sống bơ vơ, bị bỏ rơi và không ai quan tâm. Tâm trạng của người bị bỏ rơi và bơ vơ là trạng thái đau khổ nhất mà con người phải gánh chịu. Muốn chữa lành các vết thương của họ, chúng ta phải đến với họ. Muốn chia sẻ nếp sống của họ chúng ta phải đồng cảm và chia sẻ lối sống của họ.
Thật vậy, lời khuyên của cha cố trong Dòng vẫn văng vẳng bên tai tôi. Ngài đã nói như sau: “Muốn công việc phục vụ người tất bạt, bơ vơ, nghèo khổ được hữu hiệu, anh em chúng mình, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cần phải có con tim rung cảm, con tim bị bốc cháy bằng trái tim nhân hậu và rực cháy lửa yêu mến của Chúa.” Và điều này cần đuợc áp dụng cho anh em mình trước tiên. Đừng bỏ rơi ai và đừng để ai bị bơ vơ!
Còn chúng ta thì sao? Tôi không phải là Chúa. Tôi không thuộc về nhóm 12. Và tôi cũng chẳng phải là Thánh An-Phong. Hẳn nhiên là như thế. Cho dù chúng mình không phải là linh mục hay tu sĩ, nhưng trước hết chúng mình phải là một con người, bình thường, mỏng manh và yếu đuối như bao nhiều người môn đệ khác!
Đúng vậy, xin bạn đừng lo! Bởi vì Chúa không đòi chúng ta trao ban hơn điều chúng ta có thể nhận lĩnh. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng mọi chương trình mục vụ trước tiên phải được xuất phát từ lòng từ bi và nhân hậu của Đức Giê-su. Đấng luôn thương yêu con người!
Vì thế, với niềm vinh dự của người môn đệ, nhân danh Chúa Ba Ngôi chúng ta hãy ra đi. Và, trước khi ra đi, chúng ta hãy tập ở với và ở trong Chúa, để đôi mắt của chúng ta nhận ra dấu chân của những con người đang bơ vơ, lạc bước và không ai đoái hoài bằng đôi mắt từ bi, nhân hậu và luôn thương xót của Chúa. Amen! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Giữa hai việc nhận và chia sẻ, theo bạn điều nào dễ hơn? Chắc chắn là nhận thì dễ, còn chia sẻ thì khó hơn nhiều, nếu không muốn nói là rất khó.
Bạn thử nghĩ mà xem. Ngày xưa, khi mới đặt chân đến Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ hay Úc, khi nhận bàn ghế sofa, ti-vi, lò vi sóng, quần áo, thực phẩm, thuốc men, trợ cấp, phiếu thực phẩm (food stamps), bảo hiểm y tế từ những người bản xứ hay từ các cơ quan từ thiện, bạn thấy có khó không?
Tôi nghĩ là không. Không những dễ mà còn rất thoải mái nữa. Thế nhưng, khi nghe các Đức Giám mục, các linh mục hoặc các tổ chức bác ái kêu gọi bạn chia sẻ, đóng góp tiền bạc để giúp đỡ giáo xứ, giáo phận, để Giáo hội có phương tiện trợ giúp các nạn nhân chiến tranh, động đất, thiên tai, cho những người đang thiếu cơm ăn, nước uống và chỗ ở, thì việc chia sẻ và cho đi ấy có dễ không?
Nếu câu trả lời của bạn là dễ, thì tạ ơn Chúa! Còn nếu bạn nói không dễ, thì cũng đừng lo. Ít nhất bạn còn có một người đồng cảm, đó chính là tôi. Bởi vì tôi cũng đã từng có kinh nghiệm ấy. Việc chia sẻ không hề dễ chút nào, nếu không muốn nói là rất khó. Nhưng nếu chúng ta chịu khó đọc, học hỏi và suy niệm Lời Chúa một cách nghiêm túc, bạn và tôi sẽ nhận ra ba điều rất quan trọng giúp mình dễ dàng chia sẻ hơn.
I. MỌI SỰ ĐỀU THUỘC VỀ THIÊN CHÚA
Điều thứ nhất, tôi chỉ là người quản lý. Thiên Chúa mới chính là Chủ của mọi thứ tôi đang sở hữu. Mà đã là người quản lý kho tàng của Thiên Chúa thì tôi phải trung tín và khôn ngoan để cấp phát lương thực cho gia nhân đúng thời, đúng lúc.
Nhận ra điều này, tôi hiểu rằng những gì mình có không hoàn toàn là của riêng mình. Tôi được trao phó để sử dụng và quản lý theo ý muốn của Thiên Chúa.
II. CHIA SẺ LÀ MỆNH LỆNH CỦA CHÚA
Điều thứ hai, việc chia sẻ và cho đi chính là mệnh lệnh của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy.” Người môn đệ không chỉ biết đón nhận, nhưng còn được mời gọi trở thành người trao ban.
Chia sẻ không đơn thuần là một việc thiện tùy ý lựa chọn, nhưng là điều Thiên Chúa mong muốn chúng ta thực hiện.
III. CHO ĐI ĐỂ NHẬN LẠI NHỮNG ÂN PHÚC LỚN LAO
Điều thứ ba, khi chia sẻ và cho đi, tôi sẽ nhận được rất nhiều ân phúc từ Thiên Chúa.
Chính Chúa đã dạy rằng: “Cho thì có phúc hơn là nhận.”
Ân phúc Chúa ban thì nhiều lắm. Tôi chỉ xin nêu một vài ân phúc lớn lao.
1. Chúa sẽ ban lại cho tôi
Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người ta sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”
Như vậy, cứ cho đi thì tôi lại được Chúa ban lại. Mà Thiên Chúa thì giàu có và quảng đại vô cùng.
2. Tôi sẽ được Thiên Chúa ân thưởng
Chúa Giêsu cũng nói: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống dù chỉ một chén nước lã thôi vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em: người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”
Rồi Ngài còn nói: “Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành. Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh.”
Dùng của cải Chúa trao để chia sẻ và giúp đỡ tha nhân, rồi được chính Chúa khen ngợi và ân thưởng, thì còn gì quý giá hơn nữa.
3. Tôi sẽ được hưởng sự sống đời đời
Thánh Phaolô dạy: “Hãy lo làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành. Hãy ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy anh chị em đang tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai để được sự sống thật.”
Dùng những của cải vật chất chóng qua để đổi lấy sự sống đời đời thì thật là một sự khôn ngoan lớn lao.
Bạn thân mến,
Chia sẻ chắc chắn khó hơn nhận lãnh. Đó là một sự thật. Thế nhưng, tôi tin rằng nếu bạn và tôi nhận ra mọi sự mình có đều là của Chúa, rằng chúng ta chỉ là những người quản lý mà thôi; nếu chúng ta hiểu rằng chia sẻ, cho đi và phân phát là mệnh lệnh của Thiên Chúa, là điều Chúa mong muốn chúng ta thực hiện; và nếu chúng ta xác tín rằng khi chia sẻ, chúng ta sẽ nhận được nhiều ân phúc ở đời này cũng như đời sau, thì việc cho đi sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Tôi không bị thiệt thòi, nhưng còn được lợi ích lớn lao hơn.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Đức Maria, ban cho bạn và tôi ơn khôn ngoan cùng ơn hiểu biết, để nhận ra rằng chúng ta chỉ là những người quản lý các ân huệ Chúa ban.
Nhờ đó, chúng ta biết chia sẻ và cho đi một cách quảng đại, vui tươi và đầy yêu thương. Amen. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
THIÊN CHÚA KHÔNG BAO GIỜ BỎ DỞ TÌNH YÊU CỦA NGÀI
Từ giữa những đổ vỡ trong đời tôi và những đổ vỡ giữa lòng Hội Thánh, điều gì còn giữ chúng ta đứng vững? Bởi nhiều lúc nhìn cuộc đời, lòng người không khỏi nặng trĩu. Chúng ta chứng kiến quá nhiều tổn thương. Đó là những đổ vỡ trong gia đình; những rạn nứt trong các tương quan; những vết thương trong cộng đoàn.
Biết bao nhiêu điều xảy ra làm người ta thất vọng về nhau, nghi ngờ nhau, xa nhau. Đôi khi, điều làm chúng ta mệt mỏi nhất không phải là những biến cố ấy, mà là cảm giác như tình yêu đang dần hụt hơi giữa lòng thế giới.
Thế nhưng, giữa tất cả những gì có thể đổi thay, Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta trở về với một xác tín lớn: Thiên Chúa không bao giờ bỏ dở tình yêu của chính Ngài.
Đó không phải là một ý tưởng để suy nghĩ. Đó là một sự thật để sống. Là điều đã nâng đỡ dân Israel. Là điều đã cứu thánh Phêrô. Là điều đang giữ Hội Thánh đứng vững. Và cũng là điều đang giữ từng người hôm nay.
I. THIÊN CHÚA KHÔNG BAO GIỜ BỎ DỞ TÌNH YÊU CỦA NGÀI.
Đứng trước dân Israel nơi chân núi Sinai, Thiên Chúa không nhắc đến những lần than trách, nổi loạn hay bất trung của họ. Chúa chỉ nhắc đến tình yêu mà chính Chúa dành cho họ: "Ta đã mang các ngươi trên cánh phượng hoàng và đem các ngươi đến với Ta" (bài đọc I).
Đó là một hình ảnh thật đẹp: Một Thiên Chúa mang lấy dân mình. Một Thiên Chúa không mệt mỏi vì sự yếu đuối của con người. Một Thiên Chúa không bỏ cuộc khi con người muốn bỏ cuộc.
Tình yêu ấy tiếp tục được thánh Phaolô làm sáng tỏ: "Trong lúc chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta" (bài đọc II). Chúa chấp nhận chết không phải đang khi chúng ta xứng đáng. Càng không phải khi chúng ta nên thánh. Mà chính là lúc chúng ta còn là tội nhân.
Đó là điều làm nên vẻ đẹp của Kitô giáo. Thiên Chúa không yêu vì chúng ta tốt. Chúa yêu để chúng ta trở nên tốt hơn. Chúa không yêu phiên bản hoàn hảo của chúng ta. Chúa yêu chính con người thật của chúng ta. Với tất cả những giới hạn, những yếu đuối và những vấp ngã.
Sau nữa, Tin Mừng đưa đến đỉnh cao của mạc khải ấy: "Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương". Chúa không trách, không kết án, không quay lưng. Chúa động lòng thương. Đó là trái tim của Thiên Chúa. Đó là cách Thiên Chúa nhìn con người. Đó là cách Chúa vẫn đang nhìn chúng ta.
Giữa tất cả những gì làm chúng ta thất vọng, có một sự thật không thay đổi: Chúng ta chưa mất, vì Thiên Chúa chưa bao giờ buông tay.
II. TÔI CŨNG CÓ MẶT TRONG HÀNH TRÌNH ĐI XA TÌNH YÊU.
Nhưng chính lúc đứng trước một tình yêu không bao giờ lùi bước ấy, tôi bắt đầu thấy mình. Tôi đã buồn vì những đổ vỡ quanh mình, đã từng đau vì những chia rẽ giữa con người với nhau, đã ray rứt trước những thương tích của Hội Thánh. Chính tôi đã tiếc nuối khi thấy biết bao người xa dần Tin Mừng.
Nhưng hôm nay, Lời Chúa không cho phép tôi chỉ đứng ngoài để nhìn. Bởi vì tôi cũng đang ở trong câu chuyện ấy. Cũng là một phần của những thương tích ấy. Những lần tôi đã yêu quá ít. Những lần tôi đã không đủ kiên nhẫn. Những lần tôi đã nói về người khác nhiều hơn cầu nguyện cho họ. Đã nhìn lỗi lầm rõ hơn nỗi đau. Rất nhiều lần tôi đau vì thế giới thiếu lòng thương xót, nhưng chính tôi lại chưa sống đủ lòng thương xót.
Và đó là điều làm tôi đau nhất hôm nay. Không phải vì người khác chưa sống như Chúa. Nhưng vì Chúa đã yêu tôi đến thế, còn tôi vẫn chưa yêu như Chúa; Không phải vì thế giới còn đầy bóng tối. Nhưng vì nhiều khi chính tôi vẫn chưa để ánh sáng Tin Mừng chiếu sáng đủ nơi lòng mình; Không phải vì Hội Thánh còn mang thương tích. Nhưng vì tôi chưa góp phần đủ để chữa lành những thương tích ấy.
Tôi đau như thánh Phêrô, xưa đau dưới ánh mắt của Thầy. Không phải nỗi đau của một người bị kết án. Đó là nỗi đau của một người nhận ra mình được yêu quá nhiều. Và đáp lại quá ít.
III. ĐỪNG BỎ DỞ TÌNH YÊU.
Đây chính là ĐIỂM TỚI mà Lời Chúa muốn dẫn chúng ta: Không thất vọng hơn về thế giới. Không tiếp tục tìm kiếm lỗi lầm của người khác. Ngược lại, chúng ta sẽ bắt đầu yêu hơn.
Bởi vì: Nếu Chúa chưa bao giờ buông tay tôi, tôi cũng không muốn buông tay anh em mình. Nếu Chúa vẫn kiên nhẫn với tôi, tôi cũng muốn học cách kiên nhẫn với người khác. Nếu Chúa đã nhiều lần nâng tôi dậy, tôi cũng muốn trở thành một bàn tay nâng đỡ thay vì một ngón tay chỉ trích. Nếu Chúa vẫn hy vọng nơi tôi, tôi cũng không muốn tuyệt vọng về bất cứ ai.
Lòng thương xót không phải là đề tài để suy niệm. Trước hết, lòng thương xót là cách Thiên Chúa sống. Do đó cũng phải là cách người Kitô hữu sống.
Thế giới hôm nay không thiếu người kết án. Thế giới thiếu những người biết chữa lành; Hội Thánh của Chúa không cần thêm những người làm sâu hơn các vết thương. Hội Thánh cần những người biết cúi xuống băng bó; Gia đình chúng ta cũng vậy. Cộng đoàn chúng ta cũng vậy. Chính trái tim chúng ta cũng phải như vậy.
IV. XIN ĐỪNG BAO GIỜ BUÔNG TAY TÌNH YÊU.
Có thể chúng ta sẽ còn gặp những thất vọng. Còn chứng kiến những điều đau lòng. Còn đi qua những ngày tối tăm của đời người và của Hội Thánh. Nhưng xin đừng quên: Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ cuộc. Chúa chưa bao giờ bỏ dở tình yêu của Chúa. Chúa chưa bao giờ buông tay chúng ta.
Vậy thì, chúng ta cũng đừng buông tay. Đừng buông tay đức tin. Đừng buông tay hy vọng. Đừng buông tay Hội Thánh. Đừng buông tay anh chị em mình. Đừng buông tay những người đang làm mình đau. Đừng buông tay những người đang cần mình nâng đỡ.
Và nhất là, đừng bao giờ buông tay tình yêu.
Bởi chính tình yêu ấy đã đưa dân Chúa vượt qua sa mạc. Chính tình yêu ấy đã kéo thánh Phêrô đứng dậy sau tiếng gà gáy. Chính tình yêu ấy giữ Hội Thánh tồn tại qua bao thế kỷ.
Và chính tình yêu ấy vẫn đang mang mỗi chúng ta trên đôi cánh phượng hoàng của Thiên Chúa.
Chúa còn mang mãi. Cho đến ngày được trọn vẹn trong vòng tay của Chúa. mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.