SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 TN_A

19-09-2026 357 lượt xem

Lời Chúa: Is 55, 6-9; Pl 1,20c-24.27a; Mt 20,1-16a

Mục Lục

LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA – + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

LỐI NGHĨ PHÀM NHÂN TRƯỚC MẦU NHIỆM ÂN SỦNG – Phêrô Phạm Văn Trung

ÂN SỦNG CHÚA VƯỢT TRÊN MỌI TÍNH TOÁN – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

LÒNG NHÂN TỪ VƯỢT TRÊN SỰ SÒNG PHẲNG – Jos. Vinc. Ngọc Biển

VIRUS GHEN TỨC VÀ GHEN GHÉT – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO? – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, CSsR

ĐỂ CON GẦN CHÚA HƠN – Sr. Quỳnh Thoại, CĐM Cần Thơ

CHÚA CÓ THẬT LÀ GIA NGHIỆP CỦA TÔI? – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng 

LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

Trong một xã hội mà con người luôn đặt lợi nhuận là tiêu chí hàng đầu cho mọi công việc, người ta không thể hiểu nội dung của Tin Mừng hôm nay. Nhưng Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ, lại vượt xa trí tưởng tượng của con người. “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Bài đọc I). Ngài là Đấng Tạo hóa. Ngài cũng là Cha nhân hậu và yêu thương. Lời Chúa hôm nay muốn khẳng định với chúng ta điều ấy.

Ông chủ vườn nho là hình ảnh của Thiên Chúa. Người này có cách hành động và suy nghĩ khác thường. Thông thường, những người chủ khác chỉ mướn thợ vào buổi sáng đầu ngày, để hiệu quả công việc được nhiều hơn. Người ta cũng có thói quen chỉ lựa những người làm công mạnh khỏe lực lưỡng. Ông chủ trong Tin Mừng không giống như vậy. Ông nhận bất cứ ai xin việc và lại nhận bất cứ giờ nào, kể cả người xin việc vào giờ thứ mười một, tức là lúc 5 giờ chiều, lúc ngày sắp kết thúc.

Thiên Chúa là chủ vườn nho vũ trụ. Bất cứ ai đều được Chúa mời gọi gia nhập dân tộc Ít-ra-en mới, tức là Giáo hội. Lời mời gọi này được gửi tới mọi chủng tộc, mọi nền văn hóa, mọi quốc gia và lãnh thổ. Thiên Chúa là Cha. Người hào phóng với chúng ta là con cái của Ngài. Ngài luôn bao dung nhân hậu thứ tha những lầm lỗi của chúng ta (Thánh vịnh Đáp ca). Ý muốn của Ngài là mong cho chúng ta được hạnh phúc. Chính Ngài trao ban cho chúng ta niềm hạnh phúc đích thực, vì Ngài là nguồn mạch của mọi ơn phúc.

Cách đối xử của Thiên Chúa không dừng lại ở sự công bằng, nhưng còn bằng tình thương. Ông chủ tốt bụng không chỉ nghĩ đến người thợ làm vườn nho vất vả, mà còn nghĩ đến vợ con gia đình của người thợ ấy, là những người đang mong chờ đồng lương để nuôi sống cả gia đình. Thiên Chúa của chúng ta là Đấng thấu hiểu mọi sự. Ngài luôn chạnh lòng thương đối với kẻ khó nghèo, và ban ơn nâng đỡ họ những lúc gian truân.

Nếu Thiên Chúa hào phóng và quảng đại với hết mọi người, thì con người lại nhỏ nhen so đo tính toán với đồng loại. Những người thợ làm từ đầu giờ đã phàn nàn vì ông chủ cũng trả cho những người đến sau một quan tiền, giống như số tiền trả cho họ. Họ đã tức tối vì ông chủ tốt bụng. Chi tiết khôi hài này nêu bật sự ghen tỵ vô lý của con người. Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta bất bình về những chuyện xảy ra xung quanh chúng ta. Chúng ta vặn hỏi: tại sao người kia gian ác mà vẫn giàu? Tại sao Chúa không trừng phạt những kẻ này người kia vì họ đã xúc phạm đến Chúa? Chúng ta muốn giành quyền của Thiên Chúa để đóng vai quan tòa xét xử. Đó là thái độ của những người thợ làm đầu giờ. Đôi khi chúng ta bất bình vì Thiên Chúa tốt lành, vì Ngài không đối xử giống như chúng ta và theo ý chúng ta. Lời Thánh vịnh đã nhắc tới trên đây lưu ý chúng ta một lần nữa: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta”.  Sẽ có một thời điểm, một “buổi chiều” của lịch sử, khi đó Thiên Chúa sẽ xét xử phân minh và mỗi người sẽ nhận phần của mình tương xứng với cuộc sống trên trần gian. Giáo hội dạy chúng ta: đó là ngày tận thế.

Tin vào Thiên Chúa là tin vào một chuỗi những điều được coi là “ngược đời” theo lối suy nghĩ thông thường của người đời. Nhưng đó là sự “ngược đời” của lòng nhân hậu. Trong tương quan con người với nhau, người ta vẫn “ăn miếng trả miếng”, Thiên Chúa của chúng ta là mời gọi hãy tha thứ, thậm chí chúc phúc cho cả kẻ thù! Đó là một “nghịch lý”, nhưng lại là một “nghịch lý” của tình thương. Đừng chỉ nghĩ đến ơn tha thứ của Thiên Chúa đối với những người gian ác. Chính chúng ta cũng đang được Thiên Chúa thứ tha mỗi ngày. Ngài chấp nhận chúng ta “như chúng ta là”, dù chúng ta còn nhiều yếu đuối và khuyết điểm.

Cảm tạ Chúa vì hồng ân đức tin, chúng ta cần sống xứng đáng với Hồng ân cao cả ấy. Thiên Chúa là Ông Chủ luôn đối xử tốt với chúng ta. Chúng ta đừng làm gì mất lòng Ông Chủ. Đó là lời khuyên của thánh Phao-lô với các tín hữu Phi-lip-phê (Bài đọc II). Sau một cuộc đời bôn ba từng trải, thánh nhân cảm nhận rõ uy quyền và tình thương của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Đức Giê-su. Đối với ngài, sống hay chết không còn quan trọng nữa, miễn làm sao đẹp ý Chúa và có ích lợi cho Hội thánh.

Cùng với tác giả Thánh vịnh, chúng ta cùng ca ngợi “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương”. Quả vậy, Ngài luôn hào phóng và bao dung đối với tất cả chúng ta. Xin tôn vinh Ngài đến muôn đời. Amen. mục lục

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

LỐI NGHĨ PHÀM NHÂN TRƯỚC MẦU NHIỆM ÂN SỦNG

Cách nghĩ của con người thường bị chi phối bởi sự cân đong sòng phẳng: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Khi áp dụng thứ luận lý sòng phẳng ấy vào đời sống tâm linh, người ta dễ tưởng rằng mình có thể dùng công đức, đạo hạnh hay thời gian tu tập để “đổi lấy” ơn cứu độ, như thể Thiên Chúa phải trả công tương xứng với những công lao người ta đã bỏ ra cho Ngài.

1. Tình thương của Thiên Chúa lớn hơn lòng dạ con người

Chính trong bối cảnh ấy, lời sấm của Tiên tri Isaia vang lên như một tiếng sét đánh vỡ mọi chuẩn mực phàm trần: “Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy” (Is 55,8-9).  

Khoảng cách giữa trời cao vời vợi và bụi đất thấp hèn không chỉ là sự siêu việt về quyền năng, mà là vực sâu thăm thẳm giữa lòng quảng đại vô biên của Đấng Tạo Hóa và sự hẹp hòi, ti tiện của thụ tạo. Thiên Chúa không nhìn theo vẻ bề ngoài, không tính toán theo bảng chấm công của trần thế. Lời mời gọi của Isaia: “Hãy tìm Chúa khi còn tìm được... kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương hãy bỏ những tư tưởng mình” (Is 55,6-7) là một lời khẩn thiết giục giã con người bước ra khỏi cái khung chật hẹp của lý lẽ trần gian để bước vào không gian bao la của lòng thương xót Chúa.

Thánh Augustinô, khi chiêm ngắm khoảng cách mầu nhiệm này giữa Thiên Chúa và con người, đã từng thốt lên: “Si enim comprehendis, non est Deus”, đại ý là “Nếu bạn hiểu thấu được Thiên Chúa, thì đó không phải là Ngài.” [1] Thiên Chúa luôn luôn lớn hơn những định nghĩa, lớn hơn những toan tính và vượt xa mọi tiêu chuẩn công lý cứng nhắc của lòng dạ con người.

Dụ ngôn thợ làm vườn nho (Mt 20,1-16) là minh họa sống động cho tư tưởng vượt trội của Thiên Chúa. Chủ nhà ra chợ thuê thợ từ sáng sớm với giá một đồng. Lạ lùng thay, ông tiếp tục trở lại lúc 9 giờ, 12 giờ, 3 giờ và cả 5 giờ chiều khi ngày sắp tàn. Nhìn thấy những kẻ còn đứng trơ trọi, bơ vơ, ông hỏi: “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?”. Câu trả lời của họ chất chứa nỗi cay đắng của những phận đời bị gạt ra bên lề: “Vì không có ai thuê chúng tôi” (Mt 20,6-7). Ông liền sai họ vào vườn. Họ không lười biếng nhưng thất vọng chờ đợi tìm được việc làm suốt ngày dưới nắng gió. Là những kẻ yếu thế, thiếu kỹ năng và bị đời bỏ mặc, họ bị coi là vô dụng. Nhưng chủ vườn lại nhìn họ bằng lòng xót thương của một người cha: chiều tối rồi, con cái họ sẽ ra sao nếu cha chúng về tay trắng?

Kịch tính nổ ra khi trả công: kẻ làm một giờ được lãnh trước trọn vẹn một đồng, còn nhóm làm từ sáng sớm cũng chỉ nhận bấy nhiêu. Họ liền bất bình vì chịu nắng nôi suốt ngày mà bị tính ngang hàng với người đến sau: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ... mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?” (Mt 20,12). Theo lý lẽ người đời, họ khiếu nại không sai sau cả ngày đổ mồ hôi. Nhưng chủ nhà ôn tồn đáp: “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu... Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” (Mt 20,13-15).

Ông chủ không hề bất công với người đến sớm; ông giữ trọn thỏa thuận đã cam kết. Có điều ông đã vượt lên trên sự công bằng theo lẽ thường để thực thi sự nhân lành tuyệt đối. “Tội” của ông chủ, nếu có, chính là tội… quá tốt lành! Đức Bênêđictô XVI đã phân tích sâu sắc về sự đảo lộn giá trị này: “Thiên Chúa luôn rộng lượng trong cách đối xử với chúng ta. Nước Trời sẽ đến với chúng ta không phải như một phần thưởng cho những việc làm tốt lành của chúng ta, dựa trên một thứ công bằng nghiêm ngặt, nhưng như một ân sủng, một món quà của lòng thương xót và tình yêu bao la của Thiên Chúa” (Kinh Truyền Tin từ dinh Castel Gandolfo, Chúa nhật, ngày 21 tháng 9 năm 2008).

2. Bệnh mắt ganh tị và ảo tưởng về công trạng

Câu hỏi nhức nhối của ông chủ: “Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” lột trần những khoảng tăm tối nơi cội rễ tâm can con người. Trong nguyên bản tiếng Hy Lạp, cụm từ này là “οφθαλμός πονηρός - ophthalmos ponēros” là một cụm từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là “con mắt xấu xa” hoặc “ánh mắt độc ác”. Trong bối cảnh văn hóa và tôn giáo, đặc biệt là trong Kinh Thánh Tân Ước, cụm từ này mô tả một người có cái nhìn đố kỵ, ganh ghét với sự thành công hoặc tài sản của người khác. Con mắt ấy không nhìn thấy ân huệ mình đã lãnh nhận, mà chỉ dán chặt vào phần phúc của tha nhân để so đo, ganh tị và hiềm khích.

Bi kịch của nhóm thợ đến sớm không phải bị bớt lương, nhưng là bị bóp nghẹt bởi thói ganh tị thay vì có được niềm vui khi nhận tiền công. Thay vì mừng rỡ vì kiếm được một đồng nuôi sống gia đình, họ lại đâm cay đắng khi thấy kẻ làm ít cũng nhận phần tương tự, rồi xem lòng tốt của chủ như sự xúc phạm đến công lao của mình. Họ chính là hình ảnh giới Pharisêu và luật sĩ: cậy thâm niên giữ luật nên sinh ra đố kị khi thấy Chúa Giêsu đồng bàn, cứu độ những kẻ tội lỗi, những người chỉ mới bước vào “vườn nho” Nước Trời vào “giờ thứ mười một”.

Nhưng dụ ngôn không chỉ cảnh báo người đến sớm vì ganh tị, mà còn nhắc người chậm trễ hoán cải vì ỷ lại vào lòng thương xót của Chúa. Lời cảnh báo của Thánh Augustinô thật nghiêm khắc: “Hãy đến khi được gọi. Vì tất cả mọi người đều được hứa trả công như nhau; nhưng về giờ làm việc cụ thể thì lại rất không chắc chắn. Nếu những người trẻ tuổi, khi được gọi, nói rằng, “Chờ đã, chúng tôi nghe nói rằng tất cả sẽ nhận được một phần thưởng như nhau; vậy chúng tôi sẽ đến vào giờ thứ mười một, khi chúng tôi về già, tại sao chúng tôi lại phải làm việc nhiều hơn!” thì câu trả lời sẽ là, “Các ngươi không muốn làm việc sao, hỡi những người không biết mình có sống đến giờ thứ bảy hay không?...Hãy cẩn thận, kẻo đến lúc Ngài trả công cho các ngươi, các ngươi lại đã tự bỏ mất cơ may vì chậm trễ.” [2]

Khi chúng ta phục vụ Chúa với tâm thức của một người làm thuê đòi nợ, chúng ta biến tôn giáo thành một hợp đồng thương mại lạnh lùng. Nhưng Thiên Chúa không phải là một viên kế toán cầm sổ nợ. Ngài là một Người Cha giàu lòng thương xót, Đấng luôn mở rộng cửa nhà để đón đứa con hoang đàng, dù nó lê lết về nhà chỉ sau khi đã phung phí hết gia tài.

3. “Sống là Chúa Kitô” là lời giải cho nghịch lý tự hiến

Làm sao để giải thoát tâm hồn khỏi căn bệnh so đo, tị hiềm và toan tính công trạng? Thánh Phaolô Tông đồ đã đưa ra câu trả lời bằng chính cuộc đời và lẽ sống của ngài: “Vì đối với tôi, sống là Chúa Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này: là ước ao chết để được ở với chúa Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em” (Pl 1,21-24).  

Khi viết những dòng này, thánh Phaolô đang chịu xiềng xích và đối diện án tử hình, nhưng không hề than trách hay đòi Chúa trả công. Với ngài, Chúa Kitô không phải là chủ thuê mướn, mà là sự sống và cùng đích duy nhất. Khi đạt tới mức độ “Sống là Chúa Kitô”, mọi toan tính công lênh đều trở nên vô nghĩa. Được gọi vào vườn nho, dù sớm hay muộn, đã là một đặc ân. Thánh Phaolô hoàn toàn tự do trước sự sống và cái chết, sẵn sàng ở lại chịu nhọc nhằn vì ích lợi của anh em. Đó là đỉnh cao của việc từ bỏ cái tôi để hiệp thông với tình yêu Chúa Kitô.

Đức Phanxicô đã giải thích sâu sắc về nghịch lý này: “Chúa Giêsu không muốn nói về vấn đề công việc hay tiền lương công bằng, mà là về Nước Trời! Không có người thất nghiệp trong Nước Trời. Mọi người đều được kêu gọi làm phần việc của mình; và cuối cùng sẽ có phần thưởng từ sự công bằng của Thiên Chúa, không phải từ sự công bằng của con người, thật may mắn! Đó là ơn cứu độ mà Chúa Giêsu Kitô đã giành được cho chúng ta bằng cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, một ơn cứu độ không phải do xứng đáng mà là do được ban tặng, miễn phí” (Kinh truyền tin, ngày 24 tháng 9 năm 2017).

4. Đón nhận ân huệ và bước vào vườn nho tình yêu

Lời kết dụ ngôn vang vọng như quy luật bất biến của Nước Trời: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20,16). Ai cậy công đức mà kiêu căng, xét đoán sẽ tự loại mình; còn người khiêm tốn, cậy trông vào lòng thương xót Chúa lại được nâng lên trong trái tim Đấng Nhân Lành. 

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống trọn vẹn tinh thần của người thợ giờ thứ mười một: “Lúc cuộc đời xế bóng, con sẽ đến trước mặt Chúa với đôi bàn tay trắng, vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Mọi sự công chính của chúng con đều mang tì vết trước mắt Chúa. Vì vậy, con muốn được mặc lấy sự công chính của chính Chúa và đón nhận từ tình yêu Chúa phần sở hữu muôn đời là chính Chúa…” (GLHTCG, số 2011).

Lời Chúa hôm nay chất vấn: ta nhìn anh chị em bằng ánh mắt nào, so đo, tị hiềm trước may mắn của tha nhân, hay cảm thông và vui mừng trước ơn Chúa ban? Ta có đang đòi Chúa trả công, thay vì khiêm hạ nhận ra mọi sự đều là ân sủng? Dù đời ta đã lãng phí hay đang ở “giờ thứ mười một”, Chúa vẫn tha thiết gọi: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta”.

Hãy can đảm bước vào vườn nho, trút bỏ tị hiềm và so đo để nhìn mọi người bằng ánh mắt nhân từ của Chúa. Khi thấu hiểu “sống là Chúa Kitô”, như Thánh Phaolô, ta sẽ nhận ra rằng được ở trong ân sủng và cùng Ngài phục vụ tha nhân đã là phần phúc lớn lao nhất, vượt xa mọi giá trị trần thế. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://umontreal.scholaris.ca/

[2] https://prydain.wordpress.com/

ÂN SỦNG CHÚA VƯỢT TRÊN MỌI TÍNH TOÁN

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta vào một mầu nhiệm vừa cao siêu vừa rất gần gũi: mầu nhiệm ân sủng của Thiên Chúa vượt trên mọi tính toán của con người.

Con người thường tính toán theo công bằng: làm nhiều thì hưởng nhiều, đến trước thì phải được hơn người đến sau. Nhưng Thiên Chúa lại mở cho chúng ta một con đường khác: “Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

Thiên Chúa đi tìm con người

Tiên tri I-sai-a mời gọi: “Hãy tìm Chúa khi còn tìm được” (Is 55,6). Nhưng thực ra chính Thiên Chúa đi tìm con người. Lời trên mời gọi con người đừng trì hoãn lãnh nhận ân sủng của Chúa là Đấng Thánh đang mở rộng lòng thương xót. Nhưng để gặp được Chúa và lãnh ơn Chúa, con người phải “bỏ đường lối mình” và “trở về với Chúa” (Is 55,7), nghĩa là hoán cải, mà hoán cải không đơn thuần là sửa một vài lỗi bên ngoài, nhưng là để Thiên Chúa thay đổi tận căn tư tưởng và cách nhìn của chúng ta. Bởi lẽ, “đường lối Chúa” cao hơn đường lối chúng ta “như trời cao hơn đất” (Is 55,9).

Hiểu theo thánh Au-gút-ti-nô thì Thiên Chúa cao cả hơn điều trí óc con người có thể hiểu, nhưng “Chúa ở gần mọi kẻ kêu cầu Người” (Tv 144,18). Thế nên, đức tin đòi chúng ta tin tưởng và phó thác nơi Chúa, vì “Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng” (Tv 144,8). Lòng nhân từ Chúa biến đổi chúng ta để chúng ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho Chúa và tha nhân như thánh Phao-lô nói: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21).

Thiên Chúa quảng đại hơn sự công bằng của chúng ta

Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho đưa chúng ta vào tận trung tâm của mầu nhiệm ân sủng Thiên Chúa. Ông chủ “ra đi” từ sáng sớm để tìm những người làm vườn nho (x. Mt 20,1). Rồi ông lại ra vào giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín và cả giờ thứ mười một (x. Mt 20,3-6). Một ngày, ông chủ đi tìm người đến năm lần. Đó chính là hình ảnh một Thiên Chúa không mệt mỏi trong việc tìm kiếm con người.

Có những người được Chúa gọi từ tuổi thơ; có người trong tuổi thanh xuân; có người giữa những năm tháng trưởng thành; và có người mãi đến cuối đời mới nghe được tiếng Chúa. Không bao giờ là quá muộn để trở về với Thiên Chúa.

Những “giờ” khác nhau ấy, theo thánh Gio-an Kim Khẩu, là những thời điểm khác nhau trong đời người được Thiên Chúa gọi vào vườn nho của Chúa. Điều quan trọng không phải là ta được gọi sớm hay muộn, nhưng là ta có đáp lại tiếng gọi của Chúa hay không.

Chúa Giê-su mặc khải một Thiên Chúa không bị giới hạn bởi phép tính công trạng của con người: “Tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn” (Mt 20,14). Đây không phải là sự bất công, nhưng là sự quảng đại của ân sủng.

Vườn nho là nơi của ân sủng. Đến chiều, ông chủ truyền phát tiền công, bắt đầu từ những người đến sau hết. Người chỉ làm một giờ cũng nhận một đồng như người đã chịu nắng nôi suốt ngày (x. Mt 20,8-10). Những người đến trước bắt đầu than trách: “Ông kể họ bằng chúng tôi sao?” (x. Mt 20,12).

Họ không bị thiệt. Họ nhận đúng điều đã thỏa thuận. Nhưng họ không thể vui khi thấy người khác được ông chủ đối xử quảng đại. Lời ông chủ hỏi: “Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” (Mt 20,15) chất vấn não trạng muốn biến Thiên Chúa thành một người “trả lương” theo công trạng.

Đây là câu hỏi đánh thẳng vào căn bệnh sâu xa của con người: chúng ta dễ chấp nhận lòng thương xót của Chúa dành cho mình, nhưng lại khó chấp nhận lòng thương xót ấy dành cho người khác. Người làm từ sáng không mất gì cả; điều khiến họ bất mãn chính là điều tốt đẹp dành cho người khác. Như vậy, vấn đề không nằm ở sự công bằng của ông chủ, mà ở con mắt ganh tị của người thợ.

Đôi lúc chúng ta cũng thế. Ta nói: “Tôi đi lễ mấy chục năm, còn người kia mới trở lại đạo; tại sao Chúa lại ban ơn cho họ?” Ta phục vụ Giáo hội lâu năm, rồi buồn phiền khi một người mới đến được giao trách nhiệm. Ta hy sinh nhiều, nhưng lại khó vui khi người khác được khen ngợi. Ơn cứu độ không phải là món nợ Thiên Chúa phải trả. Thiên Chúa không cứu độ chúng ta như Chúa mắc nợ chúng ta.

Hãy có “cái nhìn của Thiên Chúa”

Chúng ta xét lại đôi mắt của mình. Tôi nhìn người khác bằng đôi mắt của công trạng hay bằng đôi mắt của lòng thương xót? Tôi có vui khi một người tội lỗi trở về không? Tôi có biết tạ ơn khi người khác được Chúa ban nhiều ơn không? Tôi có phục vụ mà không cần được ghi nhận không? Nếu Chúa đối xử với chúng ta bằng lòng thương xót, thì chúng ta cũng phải học cách đối xử với nhau bằng lòng thương xót.

Đừng nói: “ Tại sao Chúa ban cho họ?” Hãy nói: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì Chúa nhân lành”. Đừng hỏi: “Tôi được bao nhiêu?” Hãy hỏi: “Tôi đã trao ban được bao nhiêu?”. Đừng tự hào vì mình đến với Chúa từ “giờ thứ nhất”. Hãy khiêm tốn cảm tạ vì dù ở giờ nào, chúng ta cũng được Chúa gọi vào vườn nho của Người.

Và đến cuối ngày đời, điều quý giá nhất không phải là chúng ta đã làm được bao nhiêu việc cho Thiên Chúa, nhưng là chúng ta đã để cho ân sủng của Chúa biến đổi trái tim mình giống trái tim Chúa. Trong vườn nho của Chúa, người sau hết có thể nên trước hết, bởi vì lòng thương xót luôn lớn hơn mọi tính toán của con người (x. Mt 20,16). Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

LÒNG NHÂN TỪ VƯỢT TRÊN SỰ SÒNG PHẲNG

Cái cảnh đầu tắt mặt tối lo từng bữa cơm manh áo, hay chuyện tính toán thiệt hơn từng đồng xu cắc bạc để lo cho gia đình vốn chẳng lạ gì trong đời sống thường ngày. Áp lực mưu sinh đôi khi dễ cuốn con người vào vòng xoáy của sự so đo, hơn thiệt. Sự toan tính rất đỗi gần gũi ấy dường như được phản chiếu tương đối đầy đủ qua dụ ngôn trong Tin Mừng Matthêu hôm nay, nơi ông chủ ra chợ mấy lần để tìm và gọi người vào làm việc trong vườn nho của mình, để rồi kết thúc bằng một cách trả công khiến những người làm công từ sáng sớm phải ấm ức trách thầm: "Sao lại cào bằng thế này!".

1. Ông chủ vườn nho và bức tranh Nước Trời

Dưới ánh sáng Kinh Thánh, dụ ngôn trong Tin Mừng Matthêu hôm nay không phải là một biên bản về luật lao động hay quy chế tài chính công bằng, mà là một bức họa tuyệt mỹ về Nước Trời. Ông chủ vườn nho tượng trưng cho Thiên Chúa, Đấng không hành xử theo cái cân tiểu ly sòng phẳng của con người mà theo tiêu chuẩn của tình yêu và lòng xót thương vô biên. Trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia đã từng mạc khải: "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta (Is 55,8). Việc ông chủ trả cho nhóm thợ làm từ sáng sớm vất vả dãi nắng dầm sương cũng bằng số tiền với người chỉ làm một tiếng lúc chiều tà không phải là sự bất công, mà là biểu hiện của một trái tim quá đỗi quảng đại. Đồng tiền công được trao cho mỗi người không chỉ là tiền đủ sống một ngày, mà là hồng ân cứu độ và sự sống đời đời mà Thiên Chúa ban tặng nhưng không cho hết thảy những ai đáp lại tiếng mời gọi của Ngài.

2. Căn bệnh so đo và thói ích kỷ trong đời thường

Thế nhưng, cách ứng xử vượt trên khuôn khổ tính toán ấy lại chạm trán gay gắt với não trạng rạch ròi, ích kỷ của con người. Nhóm thợ làm từ sáng sớm đã cằn nhằn và bực bội khi thấy người đến sau nhận được phần tiền công giống mình. Phải thừa nhận rằng, phản ứng ấy rất thực tế và rất đời thường. Nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình bóng của những người thợ giờ thứ nhất ấy ngay trong chính bản thân mình và cộng đoàn chúng ta. Sống trong một thế giới đề cao chủ nghĩa thực dụng, chúng ta quen đo lường mọi mối quan hệ bằng sự hơn thua, bằng công sức bỏ ra và quyền lợi thu về. Ta sẵn sàng rộng lượng với người khác khi mình ở thế bề trên, nhưng lại ấm ức, ghen tị và trách móc khi thấy kẻ khác gặp may mắn hơn, hoặc khi thấy những người tội lỗi, những ai mới quay về với Chúa phút chót lại được hưởng ơn lành lớn lao chẳng kém gì mình. Căn bệnh so đo, tính toán và thói ích kỷ ấy đang làm rạn nứt biết bao tình cảm gia đình, làng xóm và làm nguội lạnh cả tình bác ái trong đời sống.

3. Lột bỏ ghen tị để sống trọn ơn gọi làm con Chúa

Nhìn vào đời sống thực tế mỗi ngày, bài học từ vườn nho đòi hỏi mỗi người Kitô hữu phải lột bỏ chiếc kính lọc ghen tị để mặc lấy tâm tình của chính Thiên Chúa. Người xưa có câu: "Sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu", nhưng ngẫm cho cùng, để khiêm tốn trước hồng ân mà tha nhân đón nhận đòi hỏi một nội tâm thật vững vàng và một tấm lòng rộng mở. Khi một người láng giềng gặp tai ương, ta dễ động lòng thương; nhưng khi họ phất lên, mấy ai không khỏi chạnh lòng so sánh? Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của lòng bao dung thay vì ánh mắt soi mói, tị hiềm. Đi làm vườn nho của Chúa không phải là để lập công tích trạng rồi đứng chờ ngày lãnh thưởng như chủ nợ đòi nợ Chúa, mà là để tạ ơn vì mình đã được Ngài thương gọi ra khỏi sự u mê của tội lỗi. Dù ta được gọi vào lúc tảng sáng của tuổi thơ hay lúc chiều tà của tuổi xế bóng, điều cốt yếu là ta có chịu bước chân vào làm việc và chung tay vun đắp cho cánh đồng của tình yêu thương hay không.

Tóm lại, dụ ngôn thợ làm vườn nho là một bản tuyên ngôn về lòng nhân hậu hải hà của Thiên Chúa, nơi Ngài đối xử với con người không theo công trạng thực tế mà theo tình thương xót vô bờ bến.

Lạy Chúa, chúng con mang nặng bản tính phàm nhân nên vẫn hay để lòng ghen tị và thói so đo chi phối. Xin tha thứ cho chúng con vì những lần toan tính hơn thiệt trong cuộc sống. Xin ban cho chúng con một trái tim quảng đại và khiêm tốn, để chúng con biết vui với niềm vui của anh chị em, biết trân trọng mọi hồng ân Chúa ban, và hân hoan làm trổ sinh hoa trái tốt lành nơi vườn nho của Ngài trong suốt cuộc đời này. Amen. mục lục

Jos. Vinc. Ngọc Biển

VIRUS GHEN TỨC VÀ GHEN GHÉT

Một trong những nguyên nhân gây ra rất nhiều đau khổ cho chúng ta là cái tính ghen tức. Thật vậy, khi con vi trùng ghen tức nằm ở trong trái tim, trong khối óc của một người nào đó thì cuộc đời của cá nhân đó cũng như những người trong gia đình, bạn bè thân quen của người đó sẽ phải đau khổ, buồn phiền và bất hạnh vô cùng.

Vì ghen tức nhau cho nên mới có những chính trị gia, những phóng viên, những nhà báo, những xướng ngôn viên đã trơ trẽn dùng mọi thủ đoạn đê tiện, dơ dáy và bẩn thỉu nhất trên đời này để tung tin giả, để hạ nhục, để vu oan cáo vạ với mục đích hạ bệ và triệt tiêu đối thủ của họ. Vì ghen tức cho nên người ta mới lao đầu vào làm ngày, làm đêm, làm quên cả lễ Chúa Nhật, bỏ bê việc chăm lo cho phần thiêng liêng của chính họ và của con cái để mua nhà to, xe đẹp, hàng hiệu.

Vì ghen tức cho nên người ta, trong đó có tôi, mới mất bình an trong tâm hồn, mới phạm tội nói hành, nói xấu, chê bai nhau, gây bè, kéo cánh để tẩy chay người khác. Bạn thân mến, xin đừng ghen tức với người khác nữa. Sự ghen tức chỉ đem lại những sự mệt mỏi, vất vả và bất an mà thôi. Thật vậy, ghen thì hay đi đôi với ghét.

Mà hễ nói đến ghét thì bẩn lắm. Có thứ ghét nào mà sạch đâu? Nguy hiểm hơn nữa, khi tôi để cho lòng ghen ghét người khác lớn lên trong tâm hồn, tôi sẽ rơi vào ba tình trạng rất đau khổ và bi đát sau đây.

Thứ nhất, ghen ghét làm cho tôi ra đui mù. Thánh Gioan trong thư thứ nhất, chương 2, câu 11 đã nói: “Ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho mắt người ấy ra mù quáng.”

Khi ghen ghét, tôi không còn nhìn thấy những điều tốt đẹp nơi họ nữa. Người ấy làm 10 điều tốt, tôi không thấy, nhưng chỉ cần họ làm một điều tôi không thích, tôi sẽ nhớ mãi.

Thứ hai, ghen ghét gây ra chia rẽ và xáo trộn. Thánh Giacôbê, chương 3, câu 16 nói rất rõ: “Ở đâu có ghen ghét và tranh chấp thì ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ xấu xa, tội lỗi.”

Ghen ghét làm cho gia đình chia rẽ, cộng đoàn chia rẽ, giáo xứ chia rẽ. Một khi lòng ghen ghét bén rễ, bình an sẽ biến mất và sẻ sẽ xuất hiện.

Thứ ba, ghen ghét làm cho tôi mất sự sống đời đời. Trong thư thứ nhất của Thánh Gioan, chương 3, câu 15, Ngài cảnh báo: “Ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó.”

Ghen ghét nguy hiểm lắm. Cho nên chúng mình phải tìm đủ mọi cách để tiêu diệt ngay con virus ghen tức và ghen ghét đang âm thầm nằm trong tâm hồn mình. Phải tiêu diệt nó bằng hai phương thuốc rất hữu hiệu sau đây.

Thứ nhất, đến phòng mạch tòa giải tội. Hãy đến với tòa giải tội để gặp vị bác sĩ Giêsu. Ngài sẽ chữa lành tâm hồn chúng ta, tha thứ tội lỗi cho chúng ta, và ban cho chúng ta ân sủng để tiêu diệt con virus jealousy và hatred đang làm cho tâm hồn chúng ta bệnh hoạn.

Nói cách khác, hãy để bí tích hòa giải trở thành liều thuốc chữa trị những căn bệnh của tâm hồn.

Thứ hai, thường xuyên đến tham dự Thánh lễ. Hãy đến lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu ban chính mình Ngài cho chúng ta để nuôi dưỡng tâm hồn, củng cố đức tin, và ban cho chúng ta sức mạnh thiêng liêng.

Nhờ đó, chúng ta mới có đủ sức đề kháng để chống lại con virus ghen tức và ghen ghét.

Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Đức Maria, ban ơn giúp sức để bạn và tôi loại trừ được con virus ghen tức và ghen ghét ra khỏi tâm hồn chúng mình. Khi tống khứ được con virus đó rồi, thì lúc đó, chúng mình mới có thể vui với niềm vui của người khác, mừng rỡ khi thấy người khác thành công, mở miệng chúc tụng Chúa khi thấy Ngài ban ơn và chúc lành cho bạn bè, anh em, họ hàng và thân thuộc, sống hài hòa, vui vẻ, thân thiện và yêu thương tha nhân như chính mình được.

Cầu chúc bạn và những người thân yêu của bạn một tuần lễ mới vui vẻ, bình an và tràn đầy ân sủng của Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO?

Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho

Dụ ngôn thợ làm vườn nho là một trong những hình ảnh về Nước Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã dùng lối kể chuyện để giảng dạy cho những người cùng thời với Người. Họ nghe xong câu chuyện liền hiểu ý của Chúa. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Một vài chi tiết về văn hóa, phong tục và thói quen của những người cùng thời với Chúa sẽ giúp chúng ta suy niệm bài Tin Mừng hôm nay.

Trước tiên, theo thống kê, chúng ta được biết tỷ lệ những người không có công ăn việc làm vào thời Đức Giê-su rất cao. Tình trạng này còn kéo dài cho đến khi Tin Mừng được biên soạn. Họ thường tụ họp tại các trung tâm thương mại hay các ngã tư đường để chờ được thuê mướn. Đúng như dụ ngôn mô tả, công việc của họ thường bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Tiền công họ nhận được trong một ngày là một quan tiền, số tiền đủ để trang trải chi phí cho một gia đình.

Về phía ông chủ, ông có cần phải chia ra nhiều thời điểm trong ngày để mướn thợ như dụ ngôn mô tả hay không? Theo lẽ thường, một ông chủ khôn ngoan trong việc kinh doanh phải biết tính toán số thợ cần làm trong ngày, chứ không chia ra nhiều giai đoạn để thuê nhân công như thế. Vậy việc thuê mướn thợ theo từng giai đoạn trong dụ ngôn này mang ý nghĩa đặc biệt gì? Có lẽ chúng ta nên chờ đến lúc ông chủ trả lương, lúc ấy sẽ thấy rõ ý định của ông hơn.

Một cách trả lương khiến người nghe phản ứng

Thứ tự trả lương của ông chủ cũng khiến người nghe phải phản ứng. Giả như ông gọi nhóm đầu tiên đến, trả cho họ đúng như đã thỏa thuận, rồi để họ ra về, thì chẳng có vấn đề gì xảy ra. Nhưng ông lại khơi lên sự ngạc nhiên nơi người nghe bằng cách trả một quan tiền cho những người được thuê sau cùng. Vì thế, những người thuộc nhóm được mướn trước nghĩ rằng họ sẽ được đối xử công bằng và thỏa đáng hơn, vì họ đã vất vả từ lúc 6 giờ sáng, 9 giờ, 12 giờ trưa, hay 3 giờ chiều. Họ căn cứ vào cách đối xử của ông chủ với nhóm sau cùng và suy luận rằng mình làm nhiều thì sẽ được tiền công nhiều hơn. Cuối cùng, họ giận vì ước muốn và suy nghĩ của họ không được đáp ứng.

Thứ tự trả lương và việc thuê nhân công của ông chủ khiến chúng ta phải suy nghĩ rằng dường như không có một ông chủ nào lại làm như thế cả. Nhưng như thường lệ, các tình tiết trong câu chuyện mà Đức Giê-su kể thường có yếu tố khác lạ để kích thích phản ứng của người nghe. Như thế, những tín hữu mà Thánh Mát-thêu nhắm đến, và cả chúng ta nữa, khi nghe dụ ngôn này sẽ nhận ra sứ điệp của dụ ngôn: Thiên Chúa rất công bằng, tuy nhiên sự công bằng của Thiên Chúa không bị bó buộc theo lối tính toán của con người và cũng không làm giảm bớt sự rộng lượng của Thiên Chúa. Người muốn ban cho ai tùy theo ý muốn của Người. Và không có luật nào buộc Thiên Chúa phải tuân theo ý muốn của con người.

Khi người “đạo gốc” so sánh với người mới

Thật vậy, ngay từ ngày đầu tiên được đón nhận Tin Mừng, cộng đoàn của Thánh Mát-thêu bao gồm các tín hữu gốc Do Thái và dân ngoại. Họ đã phải đối diện với những vấn đề như được trình bày trong bài Tin Mừng hôm nay. Những người tín hữu đạo gốc, cậy mình có tổ phụ là A-bra-ham, I-sa-ac và có một truyền thống lâu dài được xây dựng, bồi dưỡng bởi các ngôn sứ, thì đương nhiên nghĩ rằng họ phải được phần thưởng cao hơn và nhiều hơn so với những người dân ngoại mới nhập đạo. Thế mà những người mới gia nhập lại được hứa hẹn sẽ có phần thưởng như những người đã vất vả từ lúc tảng sáng đến giờ, thì làm gì có công bằng! Ai mà chịu được lối cư xử như thế!

Ngày nay, lối suy nghĩ dựa trên so sánh, rồi phân bì và ghen tị, vẫn còn tồn tại. Mình là đạo gốc, được sinh ra trong dòng giống của các Thánh Tử Đạo, thế mà giờ đây lại bị xếp ngang hàng với những người mới nhập đạo; thậm chí có cả những người bị gọi là “đạo vợ” hay “đạo gạo”, như câu chúng ta vẫn nghe dạo nào: “Theo đạo có gạo mà ăn!”, thì ai mà chịu nổi! Nhưng thật trớ trêu, kết quả lại cho thấy nhiều người tân tòng có niềm tin sâu sắc và bền vững hơn cả những người đạo gốc chúng mình.

Tôi có đang ghen tị với người khác?

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện trong dụ ngôn hôm nay còn nhắc chúng ta nhớ rằng sự thèm muốn và ghen tị vẫn gắn liền với cuộc sống con người. Chúng ta thèm muốn những gì Chúa ban cho người khác hơn mình. Vì thế, khi suy tư về trình thuật hôm nay, tôi nhìn ra chính mình trong câu chuyện. Tôi vẫn còn phân bì, ước muốn và ghen tị trong cách cư xử và lối sống của tôi. Nhiều lần không nói ra, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn bực bội, đố kỵ và ghen tương với những gì người khác nhận được từ Chúa. Như vậy, không phải chỉ có một CÓ, mà là BA CÓ: CÓ đố kỵ, CÓ ghen tương và CÓ phân bì.

Tôi chủ trương viết hoa chữ CÓ để nhắc nhở mình phải dè chừng, đừng để cuộc sống bị tính phân bì và đố kỵ làm chủ. Một cách cụ thể, tôi xin phép thú nhận rằng: tôi đã nhiều lần chứng kiến sự thành công và thăng tiến của người khác; ngoài miệng nói lời chúc mừng, nhưng trong lòng vẫn không được vui chút nào, thậm chí lại nghĩ rằng tôi mới là người xứng đáng đứng vào vị trí đó. Không chỉ có thế, đôi khi tôi còn mong cho người ấy thất bại để thỏa tính ghen tị và không muốn ai hơn mình.

Thiên Chúa không đối xử bất công

Tuy nhiên, Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay không lên tiếng khiển trách hay phản đối cách suy nghĩ của những người cằn nhằn về lối cư xử của ông chủ. Người nhẹ nhàng và tế nhị nhắc cho họ biết rằng ông chủ chưa hề đối xử bất công với họ. Ông có quyền và có tự do trong cách quản lý và phân chia tài sản của mình.

Thật vậy, Chúa chưa hề đối xử bất công với ai trong chúng ta. Chúa thật quảng đại khi rộng ban cho chúng ta hơn cả những điều chúng ta dám ước mong hay cầu xin. Câu hỏi: “Tôi không được phép làm những gì tôi chọn với những gì thuộc về tôi sao? Hay bạn ghen tị vì tôi rộng lượng?” làm nổi bật điểm chính của dụ ngôn: ân huệ, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa là của Ngài.

Ngài muốn sử dụng như thế nào thì tùy ý Ngài. Vậy chúng ta lấy quyền gì mà so sánh, phân bì, đố kỵ và ghen tương!

Được làm con cái là một hồng ân

Thưa anh chị em,

Chúng ta hãy nhớ rằng được kêu gọi là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa là một vinh dự, là một hồng ân được trao ban từ Thiên Chúa. Người không trả công cho chúng ta để làm việc cho Người. Trái lại, những gì chúng ta có, toàn là quà tặng của Người trao ban.

Hẳn anh chị em còn nhớ người con cả trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, theo Tin Mừng Thánh Lu-ca. Anh muốn thưa với cha: “Xin hãy đối xử với con như một người làm công.” Nhưng Đức Giê-su lại cho chúng ta thấy một lời mời gọi sâu xa hơn: “Con không biết mọi sự của cha là của con hay sao?” Anh chỉ muốn là người làm công, còn Chúa lại muốn anh nhớ rằng tương quan cha - con mới là mối dây đích thật mà Thiên Chúa muốn anh thiết lập và xây dựng.

Từ đó, chúng ta biết rằng Thiên Chúa không trả công cho chúng ta khi cho phép chúng ta làm việc để mở mang Nước Chúa. Bổn phận đó là một hồng ân, một sự tín thác trong yêu thương, phát sinh từ lòng rộng rãi của Thiên Chúa. Người muốn ban cho chúng ta những gì Người muốn chúng ta đón nhận. Và chúng ta gọi đó là quà tặng.

Quà tặng không phải là một cuộc giao dịch

Nếu anh hay chị muốn tặng một thứ gì đó cho người khác với kỳ vọng rằng họ sẽ làm điều gì đó để đáp lại, thì đó không còn là một món quà nữa, mà là một khoản đầu tư; tệ hơn, có thể coi như một hình thức mua chuộc.

Quà tặng được trao ban nhưng không, hoàn toàn miễn phí. Nếu anh hay chị nghĩ rằng mình xứng đáng nhận được điều gì đó, rồi sau đó nhận được điều ấy, thì đó không còn là một món quà nữa, mà là một khoản thanh toán hay một sự hoàn trả cho điều mình đã mặc nhiên khẳng định trong lòng từ trước.

Quà tặng không mang tính chất giao dịch. Chúng ta không thể kiếm được quà tặng, chúng ta chỉ có thể nhận được chúng.

Như vậy, chúng ta có quyền gì mà ghen tị khi Thiên Chúa thể hiện lòng tốt lành và rộng lượng trong việc trao ban quà tặng cho con người?

Đừng phân bì, hãy tạ ơn

Tốt nhất là chúng ta đừng so sánh, đừng phân bì, rồi sinh ra ghen tương. Trái lại, hãy noi gương tấm lòng quảng đại, nhân từ, yêu thương và luôn tha thứ của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại cách cư xử của ông chủ trong dụ ngôn: ông không làm thiệt hại ai, cũng không ăn bớt của ai. Trái lại, ông quan tâm đến từng người, bằng cách cung cấp cho họ và gia đình những gì họ cần để sống. Chỉ khi nhìn như thế, chúng ta mới có thể chấp nhận nhau, không ghen tương và không phân bì với nhau.

Vì vậy, với tâm tình tạ ơn, chúng ta tán dương và ca tụng lòng rộng ban của Thiên Chúa, Đấng đã ban phát cho chúng ta không chỉ đủ dùng, mà còn dư dật để chúng ta biết chia sẻ và làm quà cho người khác nữa. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, CSsR

ĐỂ CON GẦN CHÚA HƠN

Làm sao để gần Chúa hơn? Có lẽ là khi con người học để tư tưởng và đường lối của Chúa dần trở thành tư tưởng và đường lối của mình.  Phần Chúa, Ngài đã nghiêng mình “hết cỡ” để gần ta rồi, còn ta, có sẵn sàng để Chúa “chỉnh đốn tư tưởng và sửa lại lối đường của mình hay không mà thôi.

Ngôn sứ Isaia trong Bài đọc 1 nói rất rõ cách thức để gần Thiên Chúa, đó là hãy loại bỏ tư tưởng bất lương và lối đường gian ác! Chính những tư tưởng bất lương và những lối đường gian ác làm cho con người xa Chúa, xa tha nhân và xa chính mình.

Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philipphê còn chỉ ra một phương thế hữu hiệu để gần Chúa hơn: đó là sống xứng với Tin Mừng của Đức Kitô.

Bạn thân mến,

Là những Kitô hữu, bạn và tôi được tiếp xúc thường xuyên với Tin Mừng, với Lời Chúa. Đó không chỉ là một tuyển tập “lời hay ý đẹp” để ta học thuộc, nhưng là câu chuyện sống động về Đức Kitô: về cuộc đời, sứ mạng và tình yêu mà Người đã sống.

Tin Mừng ấy đã đồng hành với mỗi người Kitô hữu qua từng biến cố, từng sự kiện lớn nhỏ trong đời sống thường ngày:

  • Ngày lãnh Bí Tích Rửa Tội, ta đã được đem đến nhà thờ, dưới ánh sáng Lời Chúa soi dẫn, ta trở thành con cái Thiên Chúa giữa lòng Hội Thánh.

  • Ngày lãnh Bí Tích Thánh Thể, Thêm Sức, Hôn Phối…và cả khi đau bệnh lâm nguy, cái chết, Lời Chúa luôn ở gần ủi an, nâng đỡ và chúc phúc cho ta.

Và nếu Lời Chúa thật sự ở gần ta, tại sao cách ta nghĩ, cách ta nhìn và cách ta đối xử với nhau đôi khi vẫn rất xa đường lối của Chúa?

Có lẽ tuy Lời Chúa vẫn ở gần, nhưng chưa chắc đã bén rễ đủ sâu trong tư tưởng và cách sống của ta. Ta vẫn có thể nghe Lời Chúa, nhưng lại nhìn cuộc đời bằng cái nhìn giới hạn của mình. Ta vẫn biết Chúa là Đấng quảng đại, nhưng ta lại khó chịu khi sự quảng đại ấy được dành cho một người khác. Ta vẫn tin Chúa là Đấng công bằng, nhưng lại muốn Chúa công bằng theo cách mình nhìn và nghĩ là phải. Và… dụ ngôn những người thợ làm vườn nho trong bài Tin Mừng hôm nay giúp ta biết cảnh giác với những “tư tưởng gian ác và những lối đường bất chính” đang ẩn náu trong cái nhìn của mình, vì:

Sự gian ác không chỉ là nghĩ hay làm điều xấu cho người khác. Có khi, chỉ là không chịu nổi khi điều tốt xảy đến với ai đó.

Sự bất lương không chỉ là lấy đi của người khác những gì thuộc về họ. Có khi, tôi đã nhận đủ phần của mình, nhưng vẫn khó chịu vì người khác cũng được nhận như tôi.

Tôi phàn nàn không phải vì mình bị đối xử bất công, nhưng vì người khác được đối xử quá tốt.

Tôi không mất đi điều gì, nhưng tôi vẫn thấy mình thiệt thòi, chỉ vì người khác được yêu thương, được ưu ái, được trao cơ hội, được tha thứ hay được may mắn hơn mình.

Và thế là trong lòng ta xuất hiện một thứ cân đo rất lạ: ta bắt đầu tính xem mình đã làm được bao nhiêu, đã hy sinh bao nhiêu, đã chờ đợi bao lâu… rồi từ đó cho rằng người khác phải được ít hơn mình.

Những người thợ làm từ sáng sớm trong dụ ngôn hôm nay cũng đã nghĩ như thế. Họ không bị đối xử bất công. Họ được nhận phần công như đã thỏa thuận từ ban đầu. Nhưng rồi họ lại không vui vì thấy những người làm sau cũng nhận được như họ.  Còn chúng ta, có khi nào ta cũng giống họ?

Với Chúa – Hồng ân hay công trạng?

Ta có từng nghĩ: tôi làm nhiều hơn, chắc tôi phải được hơn? Và rồi khi đối diện với Lời Chúa hôm nay, ta được dạy: “Ta muốn ban cho người này cũng được bằng con đó!” Và ta nhận ra: Tình yêu hay ân sủng của Chúa không phải là một chiếc bánh, hễ Chúa cho người khác thì tôi bị bớt. Không, tình yêu Ngài luôn còn mãi, không sợ hư hao, chỉ là ta đang muốn độc quyền thôi.

Với tha nhân – So sánh hay yêu mến?

Có khi nào mắt tôi nhìn anh chị em mình và thấy “không cam tâm” khi họ được yêu thương hơn, có nhiều hơn, được ưu ái hơn? Và Lời Chúa chất vấn tôi: “Chẳng lẽ Ta lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của Ta sao? Hay vì thấy Ta tốt bụng, mà con đâm ra ghen tức?” Có lẽ tôi cần học cách thoát ra khỏi cái nhìn so sánh, để biết vui với điều tốt lành của anh chị em mình.

Với chính mình – Biết ơn hay tính toán?

Có khi nào tôi không thiếu phần của mình, nhưng vẫn cảm thấy không vui vì người khác cũng có phần? Và Lời Chúa như một nhắc nhở: Này con, Ta đâu có xử bất công với con! Vậy có lẽ điều tôi cần giảm bớt không phải là phần của người khác, mà là những tính toán trong lòng mình. Nhờ đó, tôi có thể sống biết ơn hơn, bớt phàn nàn những điều không hợp ý, và để tôi sống có tình hơn.

Lạy Chúa là Đấng luôn quảng đại và rộng lượng. Xin uốn nắn nẻo đường của trái tim con, và chỉnh đốn những tư tưởng chưa thuộc về Chúa, để con không chỉ gần Chúa bằng những thực hành bên ngoài, mà ngay cả trong tư tưởng, cách nhìn và cách sống. Amen. mục lục

Sr. Quỳnh Thoại, CĐM Cần Thơ

CHÚA CÓ THẬT LÀ GIA NGHIỆP CỦA TÔI? 

Không thiếu những câu chuyện làm chúng ta đau. Không đau vì biết rõ ai đúng, ai sai. Nhưng đau vì đó là sự thật đầy tai tiếng: Những con người vốn thuộc về Chúa, thậm chí đứng trong hàng giáo sĩ cao cấp, không còn nhìn nhau bằng ánh mắt của Chúa, khiến Danh Chúa bị tổn thương, không chỉ giữa đoàn chiên, mà còn bị tổn thương nặng ngay giữa xã hội loài người.

Những câu chuyện đang gây nhiều xôn xao, nhiều chia rẽ do nhiều luồng suy nghĩ trái nhau, thậm chí tấn công nhau bằng nhiều lời lẽ khó nghe... Dù chúng ta không đứng ở vị trí phán xét để phán xét hay kết luận về bất cứ ai, thì đó vẫn là gương mù. Tuy nhiên, nó vẫn có thể giúp mỗi người nhìn vào sự xấu xa ấy để soi lại mình.

Bởi biết đâu điều đáng sợ nhất không phải là người khác có cái tôi. Mà là cái tôi của chính tôi cũng có thể lớn lên mà tôi không nhận ra.

1. KHI “TÔI” ĐỨNG GIỮA NHỮNG ĐIỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Một người có thể nghĩ mình đang bảo vệ danh dự. Một người khác có thể nghĩ mình đang bảo vệ công lý; Một người có thể thấy mình cần bảo vệ quyền bính; Một người khác có thể thấy mình phải lên tiếng cho người nghèo, cho sự thật, cho những người yếu thế... Những điều ấy tự chúng có thể rất tốt. Nhưng có một câu hỏi phải được đặt ra: Trong tất cả những điều tôi đang bảo vệ, có còn chỗ cho Chúa không?

Bởi một điều rất lạ có thể xảy ra: Tôi nói tôi bảo vệ Hội Thánh, nhưng cuối cùng lại bảo vệ chính mình. Tôi nói tôi bảo vệ sự thật, nhưng lại không chịu nổi khi chính mình bị sự thật đụng đến. Tôi nói tôi bảo vệ danh dự, nhưng lại không chịu nổi một chút mất mặt. Tôi nói tôi bênh vực người khác, nhưng sâu bên trong, tôi cũng đang bênh vực cái tôi của mình.

Và rồi hai cái tôi gặp nhau. Không ai chịu ai. Không ai muốn lùi. Không ai muốn mất. Không ai muốn bị xem là người thua.

Cuộc tranh luận trở thành cuộc chiến. Cuộc chiến trở thành sự đối đầu. Sự đối đầu trở thành những vết thương. Người ta không ngừng sỉ vả nhau, thằng thừng tấn công nhau không một chút khoan nhượng. Rồi kết án nhau. Đem mọi biện pháp, mọi bản án tròng vào đầu, vào cổ nhau.

Và cuối cùng, điều đau nhất xảy ra: Người ta vẫn nói về Chúa, nhưng người ta không còn nhìn thấy Chúa ở giữa những điều đang diễn ra.

Danh Chúa bị che khuất.

Hội Thánh bị tổn thương.

Những người tín hữu đơn sơ bị hoang mang.

Trong số những người phải chịu đựng gương mù ấy, có vô số người chẳng biết đầu đuôi câu chuyện. Họ chẳng thuộc về phe nào, chẳng muốn chống ai, cũng chẳng muốn bênh ai. Họ chỉ hỏi: “Con biết tin vào ai đây?”.

Và câu hỏi ấy làm chúng ta đau. Rất đau.

2. NGƯỜI THỢ LÀM TỪ SÁNG SỚM.

Tin Mừng Chúa nhật XXV năm A kể về những người thợ vào làm vườn nho từ sáng sớm. Họ chịu nắng nôi cả ngày. Họ đã làm nhiều hơn. Họ có lý do để nghĩ rằng mình phải được hơn. Nhưng chính lúc ấy, ông chủ hỏi: "Có phải vì thấy tôi tốt bụng, mà anh em đâm ra ghen tức?”. Câu hỏi ấy không chỉ dành cho một người. Nó còn dành cho những người đã ở trong vườn nho rất lâu.

Và cũng dành cho tôi. Bởi tôi có thể đã phục vụ Chúa nhiều năm, đã hy sinh nhiều, đã chịu đựng nhiều, đã làm nhiều việc cho Giáo Hội. Nhưng có một câu hỏi mà tôi ít khi dám hỏi: “Lạy Chúa, con làm tất cả những điều ấy vì Chúa, hay vì một ngày nào đó con mong Chúa phải trả lại cho con một điều gì?”

Tôi có thể nói: "Con hiến đời con cho Chúa". Nhưng nếu bị xúc phạm, tôi không chịu nổi. Tôi cầu nguyện: "Con thuộc về Chúa". Nhưng nếu bị mất quyền, tôi không chịu nổi. Tôi xác tín với Chúa: "Chúa là tất cả của con". Nhưng nếu bị mất danh dự, tôi đau đến mức muốn trả đũa. Tôi tự hào: “Con phục vụ Hội Thánh". Nhưng nếu người khác không công nhận công lao của tôi, tôi thấy mình bị xúc phạm.

Vậy thì tôi phải thành thật hỏi: Chúa có thật là gia nghiệp của tôi không?

3. NẾU CHÚA LÀ GIA NGHIỆP, TÔI CÓ DÁM CHỊU THIỆT VÌ CHÚA KHÔNG?

Đây có lẽ là câu hỏi đau nhất. Bởi nói “Chúa là gia nghiệp” thì rất đẹp. Nhưng sống như thể Chúa là gia nghiệp duy nhất lại là chuyện khác. Nếu Chúa là gia nghiệp, tôi có thể mất một chút danh dự mà không cần giành lại bằng mọi giá. Nếu Chúa là gia nghiệp, tôi có thể chịu một chút thiệt thòi mà không nhất thiết phải thắng. Nếu Chúa là gia nghiệp, tôi có thể bị hiểu lầm mà không cần hủy diệt người đã hiểu lầm mình. Nếu Chúa là gia nghiệp, tôi có thể lùi một bước mà không cảm thấy mình bị tiêu diệt. Nếu Chúa là gia nghiệp, tôi có thể trao quyền lại mà không nghĩ rằng mình mất tất cả.

Bởi vì: Tôi mất một điều, nhưng tôi không mất Chúa.

Thế mà nhiều khi chỉ một chút mất mát cũng đủ làm tôi nổi giận. Chỉ một lời nói cũng đủ làm tôi muốn đáp trả. Chỉ một sự xúc phạm cũng đủ làm tôi quên mất mình là ai.

Tôi là người của Chúa. Tôi mang lấy Danh Chúa. Tôi đã từng tuyên bố hiến mình cho Chúa. Vậy mà chỉ cần người ta đụng đến “cái tôi” của tôi, tôi lại sẵn sàng làm những điều có thể khiến chính Danh Chúa bị thương.

Nghịch lý thay!

Có khi tôi nói: “Chúa là gia nghiệp của con". Nhưng lại không chịu mất một chút gì vì Chúa. Không chịu mất tiếng. Không chịu mất mặt. Không chịu mất quyền. Không chịu mất phần hơn. Không chịu mất chiến thắng.

Và vì thế, lời tuyên bố “Chúa là gia nghiệp” có thể vẫn còn rất đẹp trên môi, nhưng chưa chắc đã trở thành sự thật trong đời sống.

4. NHÌN LẠI CHÚA GIÊSU TRÊN THÁNH GIÁ.

Nhưng rồi chúng ta hãy đi đến nơi không còn lời biện minh nào nữa: Đồi Canvê. Ở đó, Chúa chúng ta bị lấy đi gần như tất cả. Không còn vẻ uy nghi. Không còn quyền lực theo cách người đời nhìn thấy. Không còn danh dự trước mắt người đời. Không còn áo quần. Không còn tiếng nói được người ta lắng nghe. Không còn những phép lạ để chứng minh mình. Không còn đám đông tung hô. Không còn gì để giữ cho mình.

Chúa bị trần trụi. Bị tước đoạt. Bị đóng đinh. Bị xem như kẻ thất bại.

Và chính tại nơi tưởng như Người chẳng còn gì, Chúa lại cho thấy Ngài có tất cả. Bởi Ngài còn Chúa Cha. Ngài còn tình yêu. Ngài còn sự vâng phục. Ngài còn sứ mạng.

Và Ngài còn có thể nói bằng cả cuộc đời: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha".

Đây là chỗ câu hỏi “Chúa có phải là gia nghiệp của tôi không?” trở nên khủng khiếp. Bởi chúng ta không thể chỉ trả lời bằng lời nói. Thánh Giá hỏi chúng ta bằng chính thân xác của Chúa Kitô: 

“Khi con bị lấy đi những điều con tưởng là của con, con còn có Ta không?”

Khi không còn danh dự, còn Chúa không? Khi không còn quyền lực, còn Chúa không? Khi không còn thành quả, còn Chúa không? Khi người ta phạm đến quyền bính của tôi, còn Chúa không? Khi tôi phải chịu thiệt, còn Chúa không?

Khi tôi chẳng còn gì để chứng minh mình đúng, tôi còn muốn thuộc về Chúa không?

5. ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ LỜI KẾT ÁN. ĐÂY LÀ LỜI MỜI TRỞ VỀ.

Tôi nghĩ chúng ta không nên đọc những câu chuyện đau lòng trong Hội Thánh để kết án người khác. Bởi nếu tôi chỉ nhìn người khác rồi nói: “Ông ấy có cái tôi". “Người kia kiêu ngạo". “Người nọ sai". Rất có thể tôi vừa làm điều mà tôi đang lên án: Tôi lại đặt cái tôi của mình lên cao hơn người khác.

Lời Chúa hôm nay không cho phép chúng ta đứng trên cao để phán xét. Lời Chúa đưa chúng ta xuống trước Thánh Giá. Ở đó, tôi không còn hỏi: “Ai đúng?”. Nhưng hỏi: “Lạy Chúa, con đang sống vì ai?”. Tôi không còn hỏi: “Ai phải xin lỗi?”. Chỉ hỏi: “Con có còn thuộc về Chúa khi con phải chịu thiệt không?”. Tôi không còn hỏi: “Ai thắng?". Nhưng hỏi: “Sau tất cả những điều này, Danh Chúa có được sáng lên không?”. 

Đó mới là câu hỏi của người thuộc về Chúa.

6. VÀ NẾU CHÚA LÀ GIA NGHIỆP…

Giữa bối cảnh những kẻ lẽ ra phải luôn là gương lành, gương sáng, lại luôn kết án nhau, luôn tìm kiếm sự chiến thắng lẫn nhau, chắc chắn đang khiến nhiều người hoang mang.

Những người đơn sơ đã từng nhìn các mục tử với lòng kính trọng; những người đã trao niềm tin cho Hội Thánh; những người chẳng biết những chuyện bên trong, nhưng nghe những điều làm mình đau và tự hỏi: “Có còn gì để tin không?”

Tôi muốn nói với họ một điều: Đừng để những yếu đuối của con người lấy mất Chúa Giêsu khỏi lòng mình. Đừng để một cuộc tranh chấp làm chúng ta đánh mất Đấng mà chúng ta tin. Đừng để một người làm chúng ta quay lưng với Chúa. Đừng để những gì xảy ra giữa con người khiến chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa cũng như thế.

Không. Chúa vẫn là Chúa. Hội Thánh vẫn là Hội Thánh của Chúa Và Chúa Kitô vẫn đang ở đó. Chúa đã từng bị chính những người thuộc về mình làm đau. Chúa đã từng bị hiểu lầm. Đã từng bị kết án. Đã từng bị tước đoạt. Chúa đã từng đứng một mình trước thập giá. Nhưng Chúa không bỏ Cha. Và Cha không bỏ Người Con chí ái của mình 

Đó là hy vọng của chúng ta.

7. LẠY CHÚA, XIN CHO CON CHỈ CÒN CHÚA.

Có lẽ mỗi người chúng ta cần một ngày nào đó ngồi thật yên trước Nhà Tạm và không xin gì cả. Không xin thành công. Không xin được người ta hiểu.Không xin được trọng vọng. Không xin mình thắng. Không xin Chúa bênh mình trong mọi chuyện. Chỉ nói: “Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa thật là gia nghiệp của đời con".

Và rồi nói tiếp:

“Nếu con còn cần danh dự hơn cần Chúa, xin Chúa chữa con. Nếu con còn cần chiến thắng hơn cần Chúa, xin Chúa chữa con. Nếu con còn cần người khác công nhận hơn cần Chúa, xin Chúa chữa con. Nếu con còn không chịu nổi một chút thiệt thòi vì Chúa, xin Chúa chữa con. Nếu con nói con hiến đời cho Chúa nhưng lại không chịu mất gì vì Chúa, xin Chúa thương con". Rồi cuối cùng:

"Lạy Chúa, nếu một ngày con bị lấy đi tất cả, xin đừng để con đánh mất Chúa. Nếu con chẳng còn gì để giữ, xin cho con còn có Chúa. Nếu người đời không còn biết con là ai, xin cho con vẫn biết con thuộc về ai. Và nếu cuối cùng con phải đứng trần trụi như Chúa trên thập giá, xin cho con có thể nói bằng cả cuộc đời: Chúa là gia nghiệp của con. Chúa là phần con. Chúa là tất cả của con. Và có Chúa, con không mất gì cả".

Có lẽ đó là lúc lời tuyên xưng “Chúa là gia nghiệp” không còn là một câu đẹp. Nó trở thành sự thật. Khi ấy, dù con người có lấy đi của chúng ta điều gì, họ không thể lấy mất Chúa. Đó là phần gia nghiệp không ai có thể cướp đi.

Nếu người đời lấy đi của tôi tất cả mà tôi vẫn còn Chúa, thì tôi chưa mất gì cả. Nhưng nếu tôi giữ được tất cả mà đánh mất Chúa, thì tôi đã mất tất cả.”

Không phải hỏi tôi đã dâng cho Chúa bao nhiêu, mà hỏi sau tất cả những gì tôi đã dâng, tôi có thật sự để Chúa trở thành phần duy nhất mà tôi không thể mất hay chưa. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng 

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan