Người Kitô Hữu Có Được Phép Thương Khóc Thân Nhân Qua Đời Không?

22-11-2017 3,774 lượt xem

Người Kitô Hữu Có Được Phép Thương Khóc Thân Nhân Qua Đời Không?

=========

Kính thưa quý Bạn đọc,

Chúng ta đang ở trong tháng 11, tháng cầu cho những người qua đời. Trong thư thứ nhất gửi các tín hữu Thêsalônica, thánh Phaolô viết rằng: “về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng”. Phải chăng người Kitô hữu không được phép buồn phiền khi có thân nhân qua đời?

--------------------------------------

- Thỉnh thoảng tôi nhận được vai tờ cáo phó mở đầu với những lời như thế này: “Trong niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh, gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin ông X.. đã qua đời, ...”. Và đã hơn một người nêu lên thắc mắc: “lối hành văn có mâu thuẫn hay không? bởi vì nếu mình tin vào Chúa Phục sinh thì phải vui mừng ca hát Alleluia, chứ sao lại vô cùng thương tiếc?” Tôi đã dự nhiều lễ an táng trong đó linh mục mặc áo lễ màu trắng, màu của vui tươi (thay cho màu tím ảm đạm). Thậm chí, sau khi chấm dứt nghi thức an táng, cộng đoàn còn vỗ tay nữa. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ đám tang của Đức Gioan Phaolô II: lễ xong người ta vỗ tay.

Như vậy, khi nghe tin có ai qua đời thì ta phải vỗ tay chứ không được thương tiếc hay sao, thưa cha?

Tôi chỉ mới ghi nhận một chi tiết chung quanh lễ nghi an táng diễn ra vài nơi, chứ chưa dám bình luận gì hết. Thực ra, vấn đề này rất là phức tạp. Khi các Kitô hữu vỗ tay trong lễ nghi an táng Đức Gioan Phaolô II, thì tôi nghĩ rằng tràng pháo tay đó biểu lộ lòng tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Giáo hội một vị lãnh đạo tài ba. Trong các đám tang khác, sự vỗ tay cũng có thể mang ý nghĩa là chúc mừng một người anh chị em đã hoàn thành một cuộc hành trình trên đời, và cầu chúc cho họ được an nghỉ trong Chúa. Tuy nhiên, khi một nhà độc tài qua đời mà nhân dân vỗ tay thì chắc chắn là không phải vì chúc tụng tạ ơn, cho bằng vui mừng vì đã thoát khỏi bầu khí ngột ngạt do ông đã gây ra. Nói khác đi, cái vỗ tay trong đám tang có thể mang ý nghĩa hàm hồ, tuỳ theo ta có thiện cảm hay ác cảm đối với người đã mất.

Còn ý nghĩa của cái khóc thì rõ rệt, chứ không hàm hồ như sự vỗ tay. Cái khóc biểu lộ sự nhớ nhung thương tiếc, đúng thế không?

Chưa chắc đâu. Có người thương tiếc mà không khóc. Có người khóc mà không thương tiếc, điển hình là những người được thuê để khóc trong đám ma: họ càng khóc nhiều và khóc to tiếng thì càng được trả tiền nhiều. Tuy nhiên, tôi không muốn phê bình các phong tục xã hội, nhưng chỉ muốn đi tìm hiểu thái độ của người Kitô hữu khi đối diện với cái chết của người thân: nên vui hay nên buồn? Như vừa nói, vấn đề này rất là phức tạp, bởi vì khi đứng trước cái chết, ngay cả các thánh cũng có những thái độ xem ra trái ngược nhau: có người buồn, có người vui.

Các thánh mà cũng buồn à? Các thánh cũng sợ chết hay sao?

Chúng ta hãy đi từ từ. Khi nói đến buồn vui trước cái chết, thì cần phân biệt là cái chết của chính mình hay của người thân. Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu bằng cái chết của người thân. Không thiếu vị thánh cho rằng mình đã tin vào Chúa sống lại rồi, cho nên không được phép buồn khi người thân qua đời. Và chắc là chúng ta còn nhớ thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, khi còn bé đã có lần chúc cho ba má mau chết. Trước sự trách móc của các anh chị em, cô bé hồn nhiên giải thích rằng cô muốn cho ba má được sớm về hưởng hạnh phúc bên Chúa chứ đâu có nói gì gở đâu. Dù sao, xem ra đó chỉ là một lý luận tự phát của một cô bé ngây thơ và không đáng chấp. Tuy nhiên, một đoạn văn của một vị giáo phụ nổi tiếng có lẽ đã để lại ảnh hưởng không nhỏ trên lịch sử linh đạo Kitô giáo là của thánh Augustinô. Trong cuốn sách “Tuyên xưng” (Confessiones, đôi khi cũng được dịch là “Tự thú”), viết vào lúc khoảng 45 tuổi và bắt đầu làm giám mục, ngài đã ôn lại cuộc đời của mình. Khi mô tả lại cảnh bà mẹ qua đời (xảy ra 13 năm trước đó), ngài đã thưa với Chúa như sau (quyển Chín chương 12): “Con đã vuốt cặp mắt của bà, đang khi một nỗi buồn thấm thía tràn ngập tim con và biến thành nước mắt. Thế nhưng, do lệnh truyền nghiêm khắc của linh hồn, cặp mắt của con đã chặn lại dòng lệ. Cuộc chiến đấu này đã làm cho con phải khổ sở rất nhiều. Khi mẹ con tắt thở, cháu Adeodato òa lên khóc, nhưng vì bị tất cả chúng con trách cho nên cháu đã im.

Một cách tương tự như vậy, đứa bé ở trong con người của con cũng muốn bật tiếng khóc, nhưng một tiếng nói phát xuất từ con tim đã mắng nó cho nên nó im. Chúng con nghĩ rằng không nên cử hành đám tang với những tiếng than khóc, rên siết, dòng lệ, bởi vì đó là những cái mà người đời xót xa cho số phận bất hạnh của ai đó, hoặc cho sự hủy diệt hoàn toàn. Còn bà mẹ chúng con thì khác: bà đâu có chết cách thảm thương, cũng đâu có bị hủy diệt hoàn toàn. Chúng con tin chắc rằng bà đã sống cuộc đời lành thánh”... Liền đó, cả nhà liền hát thánh vịnh 100: “Con xin ca ngợi tình thương và công lý, con đàn hát kính Ngài”. Ngày hôm ấy Augustinô đã cầm được nước mắt, cho đến khi đưa bà mẹ ra mộ, tuy lòng vẫn tê tái. Nhưng hôm sau, khi thức dậy, Augustinô mới thấy trống vắng, thế rồi ông đã khóc.

Khóc vì mất mẹ thì có gì là khác thường đâu?

Đó là lý luận thường tình của chúng ta. Còn thánh Augustinô thì nghĩ khác. Theo ông, mình khóc khi thương tiếc số phận hẩm hiu bạc bẽo, khóc vì tội lỗi xấu xa, chứ ba mẹ mình là người đức hạnh thì không có lý gì mà khóc. Thậm chí ông cho rằng khóc thương mẹ là một tội. Ở cuối chương, ông viết như thế này: “Lạy Chúa, con xin xưng thú ra giấy trắng mực đen, ai muốn đọc thì đọc, ai muốn giải thích thế nào là quyền của họ. Nếu ai cho rằng con đã phạm tội vì đã khóc thương bà mẹ tạm thời chết trước mắt con, một bà mẹ trước đó đã khóc lâu năm vì con, thì con xin họ đừng cười nhạo con; nhưng vì lòng mến Chúa xin cũng hãy khóc thương cho tội lỗi của con trước tòa Chúa”.

Tóm lại, đối với thánh Augustinô, khóc mẹ là một tội hay sao?

Nếu căn cứ vào bản văn, thì có thể kết luận như vậy, và chúng ta đã biết lý do. Một mặt khác, thánh nhân tìm cách biện minh cho một hành vi bị coi là xấu xa như vậy bằng cách giải thích rằng mình đã khóc lóc tội lỗi của mình theo gương của bà mẹ trước đây đã chảy bao nhiêu nước mắt để cầu xin cho mình được ăn năn trở lại. Tuy nhiên, vài học giả gần đây đã đặt nghi vấn về những động lực mà thánh Augustinô trưng dẫn, nghĩa là không chắc có phải trăm phần trăm ngài bị thúc đẩy bởi động lực đức tin Kitô giáo, hay còn do ảnh hưởng của trường phái khắc kỷ Stoa, đòi hỏi con người phải làm chủ cảm xúc. Chúng ta có thể hình dung một thành kiến tương tự tại nhiều dân tộc, cấm đàn ông không được khóc nơi công cộng, bởi vì nước mắt chỉ dành riêng cho nữ giới mà thôi.

Nói thế có nghĩa là đức tin Kitô giáo không cấm khóc thương người qua đời hay sao?

Ta có thể tìm thấy câu trả lời khi đọc lại các bản văn Phúc âm. Thánh Luca thuật lại rằng khi đang đi đường đến thành Naim, Chúa Giêsu đã thấy đám tang người con trai duy nhất của một bà goá. Thánh sử ghi nhận rằng Chúa đã chạnh lòng thương (Lc 7,13). Chúng ta đoán được là ngài đã chảy nước mắt. Điều này được nói rõ hơn nữa khi thánh Gioan mô tả thái độ của Chúa Giêsu trước mộ của ông Ladarô: ngài đã khóc (Ga 11,35). Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho người chết sống lại; nhưng điều này không ngăn cản ngài chia sẻ sự buồn phiền của thân quyến. Duy có điều là cái khóc của Ngài không phải là cái khóc của tuyệt vọng mà thánh Phaolô đã cảnh giác các tín hữu Thêsalônica.

Niềm hy vọng Phục sinh không ngăn cản chúng ta vui với người vui, khóc với người khóc. Niềm hy vọng đó có cấm chúng ta lo sợ trước cái chết của chính bản thân không?

Đứng trước cái chết của thân nhân, chúng ta thấy có sự khác biệt trong thái độ của các vị thánh. Khi bước sang cái chết của bản thân, ta cũng nhận thấy một sự khác biệt tương tự. Nói chung, ai cũng ham sống và sợ chết. Thế nhưng cũng có người đi tìm cái chết bởi vì họ thấy cuộc đời này quá khổ, và họ hy vọng một kiếp sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia. Điều này thường xảy ra nơi những người tự tử. Nói khác đi, trên bình diện tâm lý, ta thấy có nhiều thái độ khác nhau trước cái chết của bản thân. Trong hiến chế “Vui mừng và hy vọng”, công đồng Vaticanô II thú nhận rằng sự chết là một điều bí hiểm đối với con người (số 18). Kitô giáo không xúi giục các tín hữu đi tìm cái chết, nhưng công bố Tin mừng sự sống vĩnh cửu. Dĩ nhiên, sự sống vĩnh cửu không có ở trên đời này, nhưng chỉ hứa ban ở đời sau, nghĩa là sau khi chết.

Đó là lý do vì sao trong lịch sử, nhiều Kitô hữu đã ước mong chóng chết để được về với Chúa. Mặt khác, người Kitô hữu cũng có một sứ mạng ở tran gian này: mỗi người được giao phó những nén bạc và cần phải sinh lợi, chứ không được phép giấu đi. Không ai được phép ăn không ngồi rồi, chờ cái chết đến để về với Chúa! Điều này cũng được áp dụng cho cả những người sống trong tình trạng bệnh tật đau yếu: họ cũng có một sứ mạng xây dựng Hội thánh nhờ những đau khổ của mình.

Chính vì có những khía cạnh phức tạp như vậy mà ta hiểu được những phản ứng khác nhau của các thánh nhân khi nói đến cái chết. Có người mong sớm được về với Chúa. Có người muốn ở lại để phục vụ Nước Chúa. Thánh Phaolô đã diễn tả sự giằng co ấy trong lá thư gửi cho các tín hữu Philipphê: “đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi. Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô, điều này tốt hơn bội phần; nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em” (Pl 1,21-23).

Đó là xét theo sự thâm tín về phần lý luận. Đến khi bước sang phần tâm lý, chắc chắn là câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều. Chỉ cần ghi nhận thái độ của đức Giêsu thì đủ rõ: ngài biết trước rằng mình sẽ phải chết để cứu chuộc nhân loại, và ngài sẵn sàng chấp nhận. Thế nhưng điều này không miễn cho ngài khỏi bồn chồn xao xuyến trong cơn hấp hối, như ta đọc thấy trong Tin mừng (Ga 12,27; Lc 22,44; Dt 5,7-8). Tóm lại, không thể khẳng định đơn giản rằng ai buồn rầu trước cái chết là thiếu đức tin; cũng như không thể khẳng định rằng ai có đức tin thì mong chóng chết! Thiết tưởng chúng ta đành khiêm tốn thú nhận với công đồng Vaticanô II rằng cái chết là một mầu nhiệm kể cả với người tín hữu, và điều này còn được nhắc lại trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1006.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP

=========

Làm Thế Nào Dung Hòa Hình Phạt Hỏa Ngục Với Lòng Thương Xót Của Chúa?

Chúng ta thường đối chọi giữa công bình với thương xót. Khi nghĩ đến tội lỗi, chúng ta dễ hình dung rằng theo lẽ công bình thì người phạm tội đáng bị Chúa phạt; nhưng theo lòng từ bi thương xót, thì Chúa tha thứ. Tuy nhiên, khi nói đến hình phạt hỏa ngục, thì theo lý luận tự nhiên, nó không chỉ đi ngược với lòng thương xót mà đi ngược cả với sự công bình nữa. Tại sao mà trái ngược công bình, thưa cha?

- Theo lẽ công bình, hình phạt phải cân xứng với tội phạm. Nếu một tội nhẹ mà xử phạt nặng là không công bình. Thí dụ như tôi ăn trộm một gói kẹo ở siêu thị và bị bắt được, thì cơ quan an ninh có thể phạt tội phải đền bù số tiền tương đương với món hàng đó, hoặc có thể giam tôi trong trại cải tạo mấy ngày. Như vậy là công bằng. Nhưng nếu vì tội ăn cắp gói kẹo mà kết án tử hình thì chắc chắn là quá đáng. Bây giờ chúng ta hãy áp dụng vào trường hợp một người phạm tội, lỗi luật Chúa. Theo phép công bằng, anh ta đáng phải phạt. Nhưng phạt như thế nào cho hợp công bằng? Tạm thời chúng ta không bàn đến bản chất của hình phạt, làm sao cho cân xứng với tội phạm, nhưng chúng ta hãy nghĩ đến thời gian thụ hình. Hình phạt hỏa ngục mang tính vĩnh cữu, bất tận. Có nghĩa là không phải là 100 năm, 1000 năm, 10 ngàn năm, mà còn hơn thế nữa. Ta thấy là không cân xứng, bởi lẽ con người chỉ sống trên đời hơn kém 100 năm, có tung hoành gì đi nữa thì cũng chỉ trong khoảng thời gian ấy thôi. Như vậy, ông ta chỉ đáng phạt 100 năm hoặc cùng lắm là 500 năm; đàng này, ông phải chịu phạt tới cả trăm ngàn năm (và hơn nữa). Như vậy là không hợp lẽ công bình; chứ đừng nói trái ngược với lòng thương xót.

Như vậy, phải giải quyết như thế nào để bảo vệ lòng thương xót của Thiên Chúa?

Một cách đơn giản hơn cả là sau một thời gian trừng phạt, Thiên Chúa tuyên bố ân xá. Đây là điều mà các chính phủ cũng thường áp dụng. Từ xưa rồi, ông Origene cũng nghĩ như vậy. Theo ông, sau một thời gian chịu án phạt, cuối cùng Thiên Chúa sẽ ban ân xá tha thứ không những cho những người tội lỗi mà kể cả ma quỷ nữa. Nhưng luận đề của ông đã bị công nghị Constantinopolis năm 543 lên án.

Tại sao vậy?

Có lẽ tại vì đi ngược lại với giáo lý của Thánh kinh, nói đến hình phạt đời đời, chứ không phải là hình phạt có hạn. Và có lẽ bởi vì thuyết này sẽ dễ đưa tới lý luận của thuyết luân hồi, theo đó con người sinh ra trên đời để đền tội đã phạm trong kiếp trước, và nếu kiếp này không đền xong thì lại đầu thai thêm nhiều kiếp nữa, chừng nào sạch tội thì thôi. Chúng ta nên biết có hai tiền đề đàng sau thuyết luân hồi. Thứ nhất, nhằm giải quyết vấn nạn: vì sao trên đời có những em bé sinh ra đã phải chịu khổ sở tàn tật; câu trả lời hợp lý là tại vì kiếp trước nó đã phạm tội cho nên kiếp này phải đền. Thứ hai, tạo cơ may cho hết mọi người được cơ may cứu độ; cũng ví như kỳ thi, nếu rớt kỳ này thì kỳ sau sẽ thi lại. Tiếc rằng tuy thoạt tiên giải pháp này xem ra hợp lý hợp tình, nhưng gặp phải khó khăn lớn, đó là thuyết luân hồi trái ngược đức tin công giáo. Mặt khác, không ai còn nhớ kiếp trước mình đã phạm tội gì để kiếp này mình cố gắng cải thiện.

Còn có giải pháp nào để giải quyết vấn đề dung hòa hỏa ngục với lòng thương xót không?

Có nhiều giả thuyết được đưa ra. Một giả thuyết thứ nhất là đóng cửa hỏa ngục. Ý kiến này đã được các nhà thần bí nêu lên từ thời Trung cổ, trong đó nổi tiếng bà Rabia al-Adawiyya (713-801), thuộc Hồi giáo, được mệnh danh là “thi sĩ của tình yêu”. Bà chủ trương phải dành tình yêu trong trắng cho Thiên Chúa, nói như sau: “Ta phải yêu mến Chúa bởi vì Ngài là Sự Thiện tuyệt đối, chứ không phải vì trông mong được Ngài ban thưởng. Nếu ai phục vụ để được hưởng thiên đàng thì chỉ là một kẻ làm thuê mà thôi”. Bà đã cầu nguyện thế này: “Lạy Chúa, nếu con tôn thờ Chúa vì sợ hoả ngục thì xin đốt con trong lửa đó. Nếu con tôn thờ Chúa vì muốn lên thiên đàng thì xin đóng cửa thiên đàng lại. Còn nếu như con tôn thờ Chúa vì Chúa, thì xin đừng ngăn cản con được nhìn thấy Chúa”. Dựa theo lời nguyện đó, người ta kể lại một giai thoại về bà như sau: “Một bữa kia, một đám thanh niên thấy cô Rabia chạy nhanh, một tay cầm đuốc cháy, tay kia xách thùng nước. Họ hỏi: Cô đi đâu vậy? Cô đáp: Tôi chạy lên thiên đàng để đốt nó, và chạy xuống hoả ngục để dập tắt ngọn lửa. Có thế người ta mới phụng thờ Chúa vì lòng mến Chúa chứ không vì mong lên thiên đàng hay vì sợ hoả ngục”. Nên biết là vào thời Trung cổ, các sử gia Kitô giáo đã viết lại tiểu sử của bà và cho bà trở lại đạo Công giáo với cái tên là Dame Caritée. Về phía công giáo, thì ta thấy có thánh Catarina Siena, ngài đã thốt lên trong buổi cầu nguyện: “Lạy Chúa, làm sao con có thể an lòng khi còn có một người, được dựng nên cũng như con đây, giống hình ảnh Chúa, mà lại bị trầm luân hoặc thoát khỏi tay Chúa? Con không muốn dù chỉ một người trong số anh chị em con, là những thân nhân của con do bản tính và do ân sủng, lại phải thiệt mất… Nếu Chúa chân thật và lân tuất cho phép, con muốn phá hủy hoả ngục, hoặc ít là từ nay trở đi, không còn linh hồn nào xuống dưới đó nữa. Miễn là con được kết hợp với Chúa nhờ tình yêu, con mong được đặt ở cửa miệng hoả ngục để bịt nó lại ngõ hầu không ai có thể vào đó được nữa. Như vậy, con mong rằng hết mọi người sẽ được cứu rỗi”. Như vậy chúng ta thấy rằng hai phụ nữ vừa rồi giải quyết vấn đề hỏa ngục dựa trên tình yêu của Chúa. Chúng ta hãy sống với Chúa trong tương quan yêu mến chứ không phải vì sợ hãi. Thậm chí, thánh nữ Catarina nghĩ rằng Thiên Chúa tha hết mọi tội lỗi của chúng ta, và chỉ có ai không tin vào sự tha thứ của Chúa mới bị xuống hỏa ngục mà thôi. Chúng ta đọc thấy điều này trong sách Đối thoại, các chương 37 và 132.

Đó là giải pháp của các phụ nữ, dựa trên tình cảm. Còn các nhà thần học thì sao?

Câu hỏi này muốn nói rằng bên cạnh những giải pháp dựa trên tình cảm, chúng ta cần phải đi tìm những giải pháp dựa trên lý luận nữa. Và dĩ nhiên là có khá nhiều giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất là vào lúc sắp lìa đời, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta một tia sáng để nhìn lại tất cả cuộc đời, và quyết định chọn lựa theo Chúa. Chỉ cần một giây là đủ, giống như người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu vậy. Một giải pháp nữa là xét lại toàn bộ vấn đề hỏa ngục: có hỏa ngục không? Câu trả lời là: vừa có vừa không, tùy theo chúng ta hiểu hỏa ngục theo nghĩa nào. Phần lớn chúng ta hình dung hỏa ngục như cái nhà tù, trại tập trung, trong đó phạm nhân phải chịu đủ thứ cực hình tra tấn, và hình khổ nhất là lửa thiêu đốt. Nếu hiểu theo nghĩa này thì phải nói là không có hỏa ngục. Lý do là tại vì những hình phạt vừa kể chỉ có giá trị cho những loài nào có thể xác. Nếu không thân xác, thì làm sao đánh đập được, và nhất là giam giữ được. Chỉ có thân xác mới có thể bị nhốt trong ngục, chứ linh hồn thì không thể nào bị nhốt trong một nơi chốn được. Chúng ta vẫn tin là linh hồn thiêng liêng, không bị lệ thuộc vào vật chất mà! Bởi vậy, chúng ta phải hiểu hình phạt theo một nghĩa khác, đó là bị sống xa cách Chúa. Thoạt tiên, xem ra câu nói này chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì trên đời có biết bao nhiêu người không tin vào Thiên Chúa, vì thế sống gần Chúa chẳng làm họ hạnh phúc, và xa cách Chúa cũng chẳng làm cho họ đau khổ. Tuy nhiên, sau khi ra khỏi đời này rồi, thì lúc ấy chúng ta mới biết đâu là cứu cánh cuộc đời. Khi chúng ta không còn mang theo thân nhân, địa vị, chức quyền, tài sản, và chỉ có hai bàn tay trắng, lúc đó chúng ta mới tự hỏi: đâu là ý nghĩa cuộc đời? Đâu là hạnh phúc thật của cuộc sống? Lúc đó, chúng ta mới thấy rõ: hạnh phúc thật là được chia sẻ sự sống với Chúa; và cái bất hạnh tuyệt đối là mất Thiên Chúa. Xét vì Thiên Chúa là niềm vui, là yêu thương, là tốt lành, cho nên mất Chúa là mất niềm vui, không cảm nhận được yêu thương nhưng chỉ thấy oán ghét và hận thù. Những thực tại này đôi khi đã cảm nhận được ngay từ trên đời này, khi chúng ta cắt đứt tình yêu với Thiên Chúa và tha nhân.

Tóm lại, làm thế nào dung hòa giữa hỏa ngục với lòng thương xót của Thiên Chúa?

Như vừa nói, chúng ta đừng hiểu hỏa ngục như cái ngục với đủ mọi hình cụ tra tấn kinh khủng nhất trên đời này; nhưng như là khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Đến đây, chúng ta đứng trước một mầu nhiệm, đó là tự do của con người. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, sẵn sàng tha thứ tất cả mọi lỗi lầm. Nhưng có người khước từ tình yêu ấy. Tại sao vậy? Thật khó hiểu. Và Thiên Chúa tôn trọng quyết định tự do của con người. Nghĩ đến đây, chúng ta chỉ còn biết than thở với lời nguyện của thánh Inhaxio Loyola: Lạy Chúa, xin chấp nhận tự do, ký ức, trí tuệ, tất cả nhưng con có và sở hữu. Tất cả là do Chúa ban cho con, bây giờ con xin dâng chúng cho Chúa. Xin Chúa xếp đặt theo ý muốn của Chúa. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa, và thế là đủ cho con rồi.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.